Bilingual: Vietnamese & English. Vietnamese is written in blue color. English is in brown color and in italic.  Please scroll down to view.

 

CHÂN-NHƯ

+++

HAI MƯƠI BÀI VIẾT VỀ NHỮNG Ư-NIỆM CĂN-BẢN TRONG PHẬT-PHÁP

+++

Minh Tích . Email: vumanhphat@gmail.com

Tháng 9, 2006

+++

 

TRUE LIKENESS

TWENTY NOTES ON KEY BUDDHIST CONCEPTS

+++

 

----------------------------------------------------------------

MỞ

 

            Đạo Phật là một trong những tôn-giáo lớn của nhân-loại. Kể từ khi Đức Thích-Ca Mâu-Ni thị-hiện trên thế-gian, chứng quả Bồ-Đề, và tuyên-giảng giáo-pháp mầu-nhiệm của Ngài cho chúng-sinh gần hai ngh́n năm trăm năm trước đây, Đạo Phật đă là nơi an-trú và là bến bờ b́nh-yên cho hàng triệu triệu người ở khắp nơi trên cơi-thế. Và trong khoảng năm mươi năm trở lại đây, Phật-Giáo đă lan truyền rộng răi trong thế-giới phương Tây, đem lại b́nh-an tinh-thần, t́nh hữu-nghị và ḷng yêu thương đến vô số con người.

            Không giống như những tôn-giáo lớn khác, Phật- giáo đồng thời cũng là khoa-học, đạo-đức-học và triết- học nữa, và đào rất sâu vào lănh-vực tâm-lư của con người, đem đến hạnh-phúc và lạc-quan cho những ai hiểu rơ và thực-hành chánh-pháp.

            Cũng không giống những tôn-giáo khác, những thánh-thư Phật-giáo, ghi lại lời dạy của Phật Thích-Ca, quá nhiều và phong-phú nên chỉ có một số rất ít người nắm vững tương-đối đầy đủ nội-dung. Và với vận-tốc chóng mặt của cuộc sống hôm nay, cũng như khuynh- hướng đặt trọng-tâm quá nặng vào sự tiện-lợi nhất-thời và hưởng-thụ tức khắc, chẳng mấy ai c̣n đủ b́nh-tâm và sáng-suốt cần-thiết để thấy cho thật tận-tường tất cả những mầu-nhiệm mà lời Phật dạy đem đến cho đời sống của chúng ta.

            Cuốn sách mỏng này là một cố-gắng khiêm- nhường để giải-thích bằng một ngôn-ngữ đơn-giản dễ hiểu những ư-niệm căn-bản nhất trong Phật-giáo, dành cho những người chưa có dịp làm quen nhiều với sự kết- hợp tuyệt-vời những yếu-tố quan-trọng nhất làm nên nội-dung của một cuộc sống hạnh-phúc nơi cơi-trần.

            Tài-liệu gồm hai mươi bài viết với các tựa đề như sau:

            1) * Duyên-khởi

            2) * Tôn-giáo và Con Người

            3) * Lẽ Sống Chết

            4) * Nhân-Quả

            5) * Nghiệp

            6) * Nhân-Duyên

            7) * Ngă, Vô-Ngă & Vô-Thường        

            8) * Đau-Khổ, Nguyên-Nhân & Cách Chữa-Trị

             9) * Ṿng Xích Sinh-Tử & Tam Độc

            10) * Tâm & Thức        

            11) * Sắc & Không

            12) * Sám-Hối & Siêu-Thoát

13) * Tín, Nguyện & Hạnh

            14) * A-La-Hán & Bồ-Tát      

            15) * Tứ Vô-Lượng-Tâm

16) * Tính & Tâm & Tướng

17) * Trí-Huệ

18) * Pháp & Pháp Môn & Pháp Giới

19) * Ư-Niệm Vô-Biên

20) * Biển-Chân-Như

 

Có thể tài-liệu này quá súc-tích cô đọng, đ̣i hỏi độc-giả phải đọc đi đọc lại nhiều lần, cũng như bỏ ra nhiều thời-giờ suy ngẫm mới mong nhập-tâm Phật-pháp. Đó cũng là cách tu theo lối phát-huy trí-huệ mà Phật Thích-Ca chỉ ra cho chúng ta vậy.

+++

 

INTRODUCTION

 

            Buddhism is one of the great religions of the world. Since the time Sakyamuni Buddha appeared on earth, attained enlightenment and started imparting his supreme understanding to humans more than two thousand five hundred years ago, Buddhism had been a refuge and a safe haven for millions of people everywhere. And over the last fifty years, Buddhism has spread widely all over the Western world, bringing peace of mind, friendliness and kindliness to countless people.

            Unlike other great religions, Buddhism is also science, logic, ethics, and psychology, delving deeply into everything concerning humanity and the universe, providing answers to the mysteries of life, and bringing happiness and optimism to those who understand and practice its way.

            Also unlike other religions, the sacred books of Buddhism, recording the teachings of Sakyamuni Buddha, are too numerous for anyone but the select few to master. And at the dizzying pace of modern living with all its stress on expediency and instant gratification, very few people have the tranquility and lucidity required to see all the miraculous effects that Buddha's teachings bring to one's life.

            This booklet is a modest effort to explain in simple language the most basic concepts of Buddhism to people who are not familiar with this wonderful combination of the elements that make up the very stuff of a happy human life.

            The document consists of twenty notes as follows:

                        1) * Raison d'être

                        2) * Religion and Humanity

                        3) * Life and Death

                        4) * Cause and Effect

                        5) * Karma

                        6) * Stance and Circumstances

                        7) * Self & No-self & Impermanence

8) * Suffering & The Causes & The Cure

9) * The Chain of Birth and Death & The Three Poisons

                        10) * Psyche & Consciousness

                        11) * Being & Non-being

                        12) * Repentance & Deliverance

13) * Faith & Vows & Practice

14) * Arahants & Bodhisattvas

15) * The Four Immeasurable Psyches

16) * Nature & Psyche & Manifestations

17) * Intelligence

18) * Dharma & Dharma Doors & Dharma  Realms

19) * The Concept of Limitlessness

20) * The Sea of True Likeness

 

 

(1)

DUYÊN-KHỞI

+++

            Thế-giới đang bước vào Thiên-Niên-Kỷ thứ ba với nhiều triển-vọng và nhiều nguy-nan. Những tiến-bộ vượt bực của nhân-loại trong ba mươi năm qua đă thật sự làm thay đổi bộ mặt hoàn-vũ. Trái đất ngày càng thu nhỏ lại. Cuộc cách mạng internet đă đem thông-tin đến những nơi xa-xôi hẻo-lánh nhất của quả địa-cầu. Triển- vọng sống chung ḥa-b́nh cho mọi dân-tộc đang ló rạng.

            Đồng-thời, thế-giới cũng đang ở trong một thời- điểm vô-cùng xáo-động. Nhiều cuộc xung-đột đang nổ ra trên quy-mô toàn-cầu, liên-quan đến chủng-tộc, tôn-giáo, kinh-tế và ư-thức-hệ. Cứ xem như t́nh-h́nh hiện nay, ta có thể tiên-đoán khá chính-xác là cuộc sống sẽ trở nên tồi tệ hơn trước khi được cải-thiện hơn.

            Nhưng chắc chắn cuộc sống sẽ khá hơn. Cái ǵ có thể đem tới sự cải-thiện này? Không nghi-ngờ ǵ nữa, Phật-giáo có thể là một sức mạnh ḥa-giải và an-ủi lớn lao. Bởi v́ Phật-giáo không là ǵ khác hơn sự tương-kính, t́nh yêu-thương, sự sám-hối, sự tha-thứ, sự sáng-suốt, và t́nh huynh-đệ cho nhân-loại.

            Tôi đă có phước lớn là khám-phá ra tất cả những điều này trong một giai-đoạn khủng-hoảng cùng-cực thời trung-niên. Trong khoảng năm năm liên tục, tôi đă say mê t́m đọc tất cả những kinh sách Phật-giáo bằng Việt-ngữ trong cả hai truyền-thống Tiểu-Thừa và Đại- Thừa mà tôi có thể kiếm ra được. Càng tiến-bộ trong t́m hiểu, tôi càng thấy rơ là tất cả những thắc-mắc của tôi về những bí-mật của cuộc sống đă được giải-đáp nhiệm- mầu, và tôi càng vững tin vào huệ-nhăn của Phật Thích-Ca Mâu-Ni.

            Kinh sách ghi lại lời Phật dạy trong hai truyền- thống nêu trên lên đến hàng ngh́n cuốn, và có rất nhiều cuốn kinh quan trọng của Đại-Thừa bằng tiếng Phạn, rồi được dịch ra tiếng Tây-Tạng, tiếng Hán, tiếng Cao-Ly, tiếng Nhật-Bản và tiếng Việt-Nam, nhưng h́nh như chưa được dịch ra Anh- ngữ. V́ vậy đối với nhiều người phương Tây, Phật-giáo vẫn là cả một khu rừng mênh-mông chữ- nghĩa đầy lạ-lẫm bí-hiểm. Do đó mà có khá nhiều hiểu-biết sai-lạc về những điều kỳ-diệu trong Phật- giáo liên-quan đến tâm-lư-học, triết-học, siêu-h́nh- học, và vũ-trụ-học.

            Cuốn sách mỏng này tóm-lược lại kết quả cuộc truy-t́m của tôi. Nó khá ngắn gọn, và chắc chắn đem đến nhiều câu hỏi hơn là câu trả lời từ phía độc giả. Muốn t́m-hiểu thâm-sâu hơn về Phật-giáo, tôi xin được nhiệt-liệt giới-thiệu cuốn sách “ĐỨC PHẬT VÀ PHẬT- PHÁP” của Đại-Đức Narada, do Phạm Kim-Khánh dịch ra Việt-ngữ. Đó sẽ là cuốn sách nhập-môn toàn-hảo cho những ai muốn có được một sự hiểu-biết rơ ràng, mạch- lạc và khúc-triết về Bậc Toàn-Giác, Thế-Tôn của trời người, cũng như những lời giáo-huấn của Ngài.

 

 

(1)

RAISON D'ÊTRE

 

            The world is entering the twenty-first century with great potentials and great dangers. The amazing progress that humanity has made in the last thirty years has truly changed the face of the earth. The world is getting smaller every day. The internet revolution has brought information to the most remote corners of the globe. The possibility of harmonious coexistence for all peoples is becoming more and more promising.

            At the same time, the world is still in strife. Conflicts are exploding on a global scale, along racial, religious, economic and ideological boundaries. On the look of things, we might have to admit that life on earth will get worse before it gets better.

            But better it will get, for sure. What can bring about this improvement? Without a doubt, Buddhism can be a great force of reconciliation and consolation. Because Buddhism is about nothing but kindness, compassion, repentance, forgiveness, lucidity, and the brotherhood of humankind.

            I have had the great fortune of discovering all this during a period of extreme crisis in mid-life. For about five years, I was passionately drawn to the great teachings of Sakyamuni Buddha, and have read all the books in Vietnamese that I could lay my hands on related to Buddhism, in both the Hinayana tradition and the Mahayana tradition. As I progressed in my understanding, I found that every question I have ever had about the mysteries of life was beautifully answered, and I developed a deep faith in the wisdom that Sakyamuni Buddha had shown humanity.

            The books that recorded Buddha's teachings in the two traditions mentioned above number in the thousands, and numerous important books, especially in the Mahayana tradition, available in Sanskrit, Tibetan, Chinese, Korean, Japanese and Vietnamese, have not been translated into English. And that is why Buddhism still seems like a labyrinth to a majority of people living in the West. There still seems to be a lot of misinformation about some of the most marvelous elements of Buddhism, touching on the scientific, psychological, philosophical, metaphysical, and cosmological aspects of understanding.

This modest booklet summarizes the results of my own quest. It is rather short, and surely might bring more questions from the reader. For a further understanding of Buddhism, I highly recommend THE BUDDHA AND HIS TEACHINGS, by Narada, a scholar-monk in the Hinayana tradition. It would serve as the perfect primer for those who wish to gain a clear, concise and lucid understanding of basic facts on the Master and His teachings.

+++

 

 

 (2)

TÔN GIÁO VÀ CON NGƯỜI

 

            Ngay từ giây phút đầu tiên khi con-người xuất-hiện trên trái-đất sau một quá-tŕnh tiến-hóa lâu dài, nỗi sợ-hăi đă đeo-đẳng anh ta trong suốt cuộc hành-tŕnh theo chiều dài lịch-sử. Lo sợ những bất-trắc, tai-họa, lo sợ bị làm hại, bị giết chết. Nỗi lo sợ chẳng bao giờ rời bỏ anh ta. Từ nỗi lo sợ này sản-sinh ra một ư-niệm mơ-hồ về một cái ǵ đó nằm ngoài ḿnh nhưng có liên-hệ với ḿnh, vị chủ-tể muôn loài có thể cứu ḿnh ra khỏi tai-ương, có thể xua tan niềm lo-sợ. Đó là lúc tôn-giáo thành-h́nh. Và khi nỗi lo-sợ tan biến đi thật v́ một lư- do nào đó, con người cảm thấy đầy biết ơn, và càng tin vào sự hiện-hữu của một Đấng Tối-Cao đầy quyền-năng sẵn-sàng đến giải-cứu cho ḿnh khỏi cơn hoạn-nạn, miễn là ḿnh tin vào Ngài và làm cho Ngài vừa ḷng.

            Thượng-Đế như vậy đă được tạo ra trong h́nh- tượng con-người.

Chúng ta không biết bao nhiêu thời-gian đă trôi qua kể từ khởi-thủy đó. Nhưng tôn-giáo vẫn c̣n trong nhân-loại cho tới ngày nay, dù rằng rất nhiều điều mê- tín thời xưa đă bị những tiến-bộ khoa-học kỹ-thuật phá tan. Và ngay tại thời-điểm này của lịch-sử nhân-loại, tôn-giáo h́nh như vẫn mạnh-mẽ như tự bao giờ, và đă dẫn tới những hành-động man-rợ không kém ǵ một ngh́n năm về trước.

Đó là bởi v́ con người vẫn c̣n đầy sợ-sệt và đau- khổ, và sẵn-sàng hiến-ḿnh cho h́nh-tượng họ tin để hy-vọng sẽ được nhận-lănh những phần-thưởng do tôn-giáo lập-ngôn mang lại. Đó cũng bởi v́ những giáo-điều nghiêm-khắc mà tôn-giáo lập ngôn áp-đặt lên tông-đồ. Con-người vốn yếu hèn, nên khó ḷng chống-chỏi được với những áp-lực đè nặng lên tâm-thức hắn do tập-quán ăn sâu, nhiều khi từ hồi c̣n thơ-dại. Và rồi người ta phạm tội-ác nhân-danh Đấng Tối-Cao của ḿnh, cốt để vừa ḷng Ngài, để Ngài sẽ ban-thưởng cho ḿnh khi ḿnh rời bỏ cơi-thế này để lên Thiên-Đàng sống với Ngài.

            Thê-thảm làm sao! Tội-nghiệp làm sao!

Có thể nào thoát khỏi sợ-sệt và đau-khổ mà không phải dùng tới cái ư-niệm vô-phước này mà chúng ta bám-víu vào từ khi có tôn-giáo trên trái-đất này không? Có thể nào tiêu-diệt những sự man-rợ đối với con-người nhân-danh cái ư-niệm tồi-tệ này được không? Có thể có một tôn-giáo nào đó tuyên-giảng bất-bạo-động mà đồng-thời cũng thực-hành nguyên-tắc bất-bạo-động được không?

Đúng thật là có một tôn giáo như thế. Đó là đạo Phật.

Đạo Phật là một tôn-giáo đặt niềm-tin vào CHÍNH CON NGƯỜI, vào khả-năng của chính con-người làm điều lành, và tự giải-thoát ḿnh khỏi sợ-sệt, căm-thù, giận-dữ, ham-muốn, đem lại ḥa-b́nh, hạnh-phúc, ḥa-hợp đến đều khắp nhân-gian. Và Đạo Phật có cả một hệ-thống luận-lư đă được chứng-nghiệm để hỗ-trợ cho niềm-tin của tín-đồ.

 

 

(2)

RELIGION AND HUMANITY

+++

 

          Since the time a thing called homo sapiens came into being after a long evolutionary process, there had been a thing called fear to accompany it. Fear of uncertainty, of calamities, fear of being harmed, being killed. A fear that has seldom left human beings ever since. From this fear came a vague idea of something extraordinary, something outside oneself but related to oneself, the first forefather who would protect oneself from harm, a spirit that could come to one's rescue, that could drive this fear away. That is where religion began. And when this fear did go away for some reason, one was filled with gratitude, and believed even more in the existence of this spirit, a Supreme Being who was omnipotent and who would readily come to save one from every calamity, as long as one believed in Him and made Him happy.

          God was then created in the image of Man.

We don't know how much time has passed since that beginning. But religion is still with humanity today, despite all the progress that we have made that clears us up from the many superstitions of the past. And at this particular juncture in history, religion seems to be stronger than ever, and has led to atrocities that even surpass the brutality of the past.

          That is because humans are still full of fear and suffering, and readily submit themselves to the hopes of reward that religion offers. That is also because of the formidable and relentless pressure placed on humans by established religions. Weak as we are, we simply can't escape from the formidable forces that are exerted on us. And so we commit crime in the name of our Supreme Being, so as to please Him, so that He will reward us when we leave this life and go to Heaven to join Him.

How tragic, how pitiful!

Can there be freedom from fear and suffering for humans without resort to this unfortunate concept that we cling to ever since the beginning of established religions? Can there be an end to the atrocities that have been committed against humanity in the name of this awful concept? Can there be A religion that preaches non-violence and actually practices it?

The answer is YES. That religion is Buddhism.

Buddhism is a religion that places faith in yourself, in your own capacity to do good, in your own capacity to free yourself from fear, hate, anger, craving, in bringing peace, happiness, harmony to everyone. And it has a well-tested set of reasons to back up your belief.

 

 

+++

 

(3)

LẼ SỐNG CHẾT

+++

 

            Cuộc sống là ǵ? Có mục-đích ǵ không? Tại sao con người phải sinh ra rồi chết đi? Tại sao ta phải khổ? Tại sao nhân-loại phải khổ? Có thật có một nơi chốn gọi là Thiên-Đàng và một nơi chốn gọi là Địa-Ngục? Có thật là ở Địa-Ngục chúng ta đau-khổ hơn ở trên trái đất, và nếu chúng ta được lên Thiên-Đàng, nơi Thượng-Đế ngụ, chúng ta sẽ măi măi sống trong hạnh-phúc?

            Vào những năm 50 của thế-kỷ trước, những nhà hiện-sinh tại châu Aâu đă tuyên-bố rằng Thượng-Đế đă chết, và cuộc sống là phi-lư. Đó là lời nghị-luận mạnh- mẽ nhất, và một thế đứng quyết-liệt nhất, chống lại tôn- giáo dưới mọi h́nh-thức và biểu-hiện. Và h́nh như luận- cứ của họ càng ngày càng có vẻ lôi cuốn hơn trong thiên-niên-kỷ thứ ba này, khi mà khoa-học, kỹ-thuật và luận-lư h́nh như đă bác-bỏ tất cả những điều mê-tín của quá-khứ. Nhưng thay vào đó, những nhà hiện-sinh lại chỉ đưa ra một thứ hư-không chủ-nghĩa, hoàn-toàn thiếu vắng những giá-trị tinh-thần mà con người không sao có thể từ-bỏ được.

T́nh-thế thật là gay-go. Và cũng thật là nguy- hiểm, nếu ta không sớm t́m ra được lối thoát.

Và rồi đến Cái Chết nữa, điều kinh-khủng nhất mà con người có thể tưởng-tượng ra. Cái Chết là có thật. Nhưng sau cái chết là ǵ? Có thật là có Thiên-Đàng và Địa-Ngục, như mọi tôn-giáo đều dạy chúng ta hay không? Và có thật là Chúa-Trời có thể đưa chúng ta lên Thiên-Đàng, thay v́ Aùc-Quỷ đưa chúng ta xuống Địa- Ngục, nơi mà chúng ta không bao giờ có hy-vọng được cứu-rỗi, và muôn đời sống trong đau đớn hay không?

Thường thường, lúc sắp lâm-chung là lúc con người cần tôn-giáo nhất. Chúng ta cô-đơn, và sợ hăi. Điều đó cũng dễ hiểu. Chúng ta sợ hăi v́ những điều tội lỗi mà chúng ta đă phạm trong suốt một cuộc đời. Sợ hăi v́ những oan hồn của những người chúng ta hăm- hại quay trở về để ám-ảnh chúng ta. Sợ hăi v́ lương-tâm của chúng ta không cho chúng ta ngủ yên. Sợ hăi v́ h́nh như Địa-Ngục đúng là chỗ dành cho chúng ta vậy.

Đó là lúc chúng ta lại cầu-khẩn Thượng-Đế của chúng ta, mong được tha-thứ, hy-vọng rằng ḷng tin tuyệt-đối của chúng ta vào Ngài sẽ làm Ngài vui ḷng và sẵn-sàng chấp-nhận chúng ta vào Vương-Quốc của Ngài.

Chẳng phải đó cũng là điều thê-thảm, tội-nghiệp hay sao? Chúng ta đút lót ai đó mà chưa chắc chúng ta  một h́nh ảnh thật rơ-rệt, tin rằng Ngài sẽ đồng-lơa với ḿnh và cứu ḿnh ra khỏi những hậu-quả khủng-khiếp mà ḿnh biết chắc đáng lẽ ḿnh phải gánh chịu.

Nếu đây là những điều đă làm bạn lo sợ, và suốt đời đi theo hành-hạï bạn, th́ Đạo Phật sẽ giúp bạn t́m ra lời giải đáp. Đừng đợi cho đến lúc quá trễ, đến lúc bạn không c̣n đủ minh-mẫn sáng-suốt để tự chọn con đường cho ḿnh, và sẽ bị dẫn dắt vào những cảnh-giới tối-tăm kinh-khủng mà nếu theo lẽ công-bằng th́ đương-nhiên bạn sẽ phải đến.

                       

+++

 

(3)

LIFE AND DEATH

+++

 

          What is life? What is it for? Why do we have to be born and then die? Why do we have to suffer? Why does humanity have to suffer? Is there really a place called Hell and a place called Heaven? Is it really true that in Hell we suffer more than on earth, and if we are taken to Heaven, where God reigns, we will be happy forever?       In the fifties of the twentieth century, the existentialists in Europe have announced that God is dead, and life is absurd. Theirs is the most vehement argument, and most resolute stand, against established religion in all forms and manifestations. And their arguments seem to have become more and more persuasive as humanity enters the third millennium, where the powerful forces of science, technology and logic seem to refute all the superstitions of the past. The trouble is, they can only replace religion with a void, an absence of any truly spiritual values that humanity simply cannot do away with.

          The situation is very dangerous, if we cannot find a way out.

          And then comes Death, that most fearsome reality to humans and all other living things. Death is real, that's for sure. But what comes after death? Is there really a Heaven and a Hell, as the established religions have all taught us? And is it really true that our God can take us to Heaven so we can be happy forever after, instead of the Devil taking us to Hell, where all the worst things can happen to you for eternity, where you can never be delivered?

          Normally, it is near the time of death that religion becomes more and more important. We are lonely, and afraid. Understandably so. Afraid because of all the bad things we have committed throughout our lives. Afraid because the spirits of the people we have done harm to come back to haunt us. Afraid because we just cannot keep our conscience quiet. Afraid because Hell seems to be a sure place for ourselves.

          That is when we again submit ourselves to our God, asking for Mercy, hoping that our absolute faith in Him alone would make Him happy and ready to receive us into His Kingdom.

          Isn't that, again, tragic and pitiful? Offering bribe to Someone, or Something, that we don't even have a clear idea of, believing that He, or It, will condone our evil acts, and save us from the dire consequences that we dread but know that we deserve?

          If these things are what worry you, and have been nagging you all your life, then Buddhism will help you find the answers. Don't wait till it's too late, till your mind is not clear enough to choose the road for yourself, so you'd have to be taken to the terrible realms where, logically, you deserve to go, and will go, for sure.

 

+++

 

(4)

NHÂN-QUẢ

+++

 

            Phật Thích-Ca Mâu-Ni dạy rằng một định-luật căn-bản của thiên-nhiên là Luật Nhân-Quả. Không có cái ǵ là ngẫu-nhiên cả. Mọi sự đều có lư-do đằng sau. Nếu không có nhân, sẽ không có quả. Nhưng nếu đă có nhân, th́ quả là điều tất-nhiên. Đó chính là Lư-tính vậy.

          Điều này hoàn-toàn phù-hợp với khoa-học và ky-ơ thuật. Cứ thử nh́n quanh, ta sẽ thấy những biểu-hiện của định-luật này ở khắp nơi. Từ vật-lư, hóa-học, sinh- vật-học, y-khoa, đến thiên-văn-học và vũ-trụ-học, định- luật hiển-nhiên đến nỗi không cần tốn thời giờ chứng- minh.

Nhưng khi bước vào lănh-vực con người th́ mọi việc không c̣n đơn-giản như vậy nữa. Chúng ta biết rằng nếu một người giết người, ăn cắp, nói dối mà bị bắt, th́ h́nh-phạt là điều tất-nhiên. Thế nhưng nếu anh ta không bị bắt th́ sao? Có thể thoát khỏi lưới pháp-luật được không? Đă có nhiều án-mạng không t́m ra thủ- phạm, và kẻ có tội không bao giờ phải chịu h́nh-phạt hắn đáng ra phải nhận. Đă có biết bao nhiêu vụ hiếp- dâm mà kẻ phạm-tội chẳng việc ǵ. Làm sao ta đem Luật Nhân-Quả ra áp-dụng ở đây và t́m ra lời giải-đáp thỏa-đáng? Làm sao có thể biện-chính cho việc những nạn nhân phải chịu đau-khổ trong khi lỗi-lầm độc-nhất của họ là đă không chọn đúng chỗ, đúng thời? Tại sao có nhà bị ăn cướp mà có nhà lại không sao? Phải chăng có một lư-do vô-duyên nào đó mà không ai hiểu và do đó ta gọi là định-mệnh?

Và rồi c̣n có những đứa trẻ sinh ra đă tật- nguyền, chắc chắn sẽ phải sống cuộc đời trong bất-hạnh. Chúng có chọn để được sinh ra hay không? Chúng có chọn cha mẹ chúng không? Chúng có chọn nơi chúng sinh ra không? Chúng có chọn sinh ra là đă bị tật- nguyền hay không? Nếu tất cả những điều này nằm ngoài tầm kiểm-soát của chúng, th́ ai sẽ phải là người chịu trách-nhiệm cho nỗi bất-hạnh này? C̣n ǵ là công- bằng nữa? Tại sao có những người giàu có và có những người không đủ ăn? Tại sao có người đau ốm, và người khác th́ lại khỏe mạnh? Tại sao lúc này tôi thấy hạnh- phúc, mà năm phút sau tôi đă thấy buồn-phiền?

Có bao nhiêu người sống trên trái đất th́ cũng có từng ấy câu hỏi, nếu không cả triệu lần hơn thế. Bạn có thể t́m ra lời giải-đáp tại bất cứ nơi đâu không?

Nếu chúng ta chỉ có một cuộc sống trên cơi trần này, và khi cuộc sống đó chấm-dứt, ta sẽ hoặc lên Thiên-Đàng hoặc xuống Địa-Ngục, th́ những câu hỏi như trên chẳng khi nào có thể được giải-đáp thỏa-đáng, và ta sẽ rất dễ dàng trở nên khinh-bạc, bi-quan yếm-thế, hoặc khá nhất cũng chỉ là giữ một thái-độ khảng-khái chịu đựng hoàn-toàn vô-nghĩa.

Đạo Phật có câu trả lời cho tất cả những thắc-mắc trên trong ư niệm về nghiệp. Và đây cũng không phải là do suy-tưởng hăo và giả-thuyết xuông, mà đă được nhiều bậc thánh-nhân chứng-nghiệm.

 

+++

 

(4)

CAUSE AND EFFECT

+++

          Sakyamuni Buddha teaches that a basic law of nature is Cause and Effect. Nothing is incidental, nothing is accidental. Everything has a reason behind it. If there is no cause, then there can be no effect. But if there is a cause, then the effect is inevitable. That is Reason itself.

          This agrees completely with science and its application, technology. Just look around you, and you see the manifestations of the law everywhere. From physics, chemistry, biology, medicine, to astronomy and cosmology, the law is so self-evident that there is hardly a need for any proof. In fact, Cause and Effect is the very basis of scientific reasoning.

When we get to the realm of human affairs, things sometimes don't seem so clear and simple. We do know that if someone steals, kills, or lies and gets caught, the punishment is inevitable. But what if you don't get caught by someone? Can you get away with it? There have been cases that were never solved and brought to court, and the culprits never got the punishment they deserve. There have been plenty of people who got raped, and the perpetrators simply got away with the crimes. How do we bring the law of cause and effect into these cases and find a plausible answer? How do we justify the pain that the victims have to suffer, when their only mistake is to be at the wrong place at the wrong time? Why do some homes get robbed and others don't? Isn't there some kind of wanton reason that none of us understands and thus all of us call fate?

And then there are children who are born with defects, and would surely lead miserable lives on earth. Did they choose to be born? Did they choose their parents? Did they choose the place they were born? Did they choose to be born defective? If all of these were not of their own choosing, then who is responsible for their misery? Is there any justice in this? Why do some people enjoy wealth and happiness, and others can hardly survive? Why are some people sick, and others are healthy? Why is it that now I feel happy and the next minute I feel sad, all of a sudden?

There are at least as many questions as there are humans on earth, if not a million times more. Can you find a plausible answer in your religion?

If we have only one life to live on earth, and that life ends when we die, so we will either go to Heaven or to Hell, then questions like these can never be answered. And we easily fall prey to cynicism, pessimism, or at best a kind of stoicism that doesn't make sense.

Buddhism has all the answers to these distressing questions in the concept of karma. And this is not pure human brooding and hypothesis. It is a reality experienced by many wise men of yesteryear. But it cannot be readily proven to someone who blindly believes in the simplistic process of scientific investigation at this stage of human development.

 

 

 

(5)

NGHIỆP

+++

 

          Ư niệm về Nghiệp không phải chỉ có trong Phật- giáo. Aán-Độ-giáo cũng tin tưởng như vậy. Tuy nhiên, có sự khác-biệt lớn giữa hai tôn-giáo. Trong khi người theo Aán-Độ-giáo tin vào đẳng-cấp xă-hội, và không ai có thể vượt đến cấp cao hơn trong đời ḿnh, th́ Phật-giáo xác-nhận mọi người b́nh-đẳng, và dù bạn có thể thuộc giai-tầng thấp kém nhất trong xă-hội, bạn cũng có cơ may vươn lên như mọi người khác do cố-gắng của ḿnh. Trong tăng-đoàn của Phật, mọi người đều bằng nhau, chỉ hơn kém nhau căn-cứ vào thời-gian tu-tập mà thôi.

          Nghiệp là cái làm cho một chúng-sinh cứ phải sinh ra hoài hoài, không biết bao nhiêu kiếp, dưới nhiều h́nh-thức khác nhau, cho đến khi chúng sinh đó đủ minh-triết để có thể đoạn-tuyệt với ṿng sinh-tử và nhập Niết-Bàn.

          Vậy nghiệp là ǵ? Ta có thấy nó không? Có thể sờ mó nó, cảm-nhận nó không?

          Phương Tây thường hiểu nghiệp như là một hậu- quả không hay mà con người phải gánh chịu v́ đă làm điều ǵ không hay trong quá-khứ. Trong giới-hạn của tín-điều Thiên-Chúa-giáo không công-nhận chuyện tái- sinh, th́ đó là luật nhân-quả trong lănh-vực tâm-lư áp- dụng ngay trong đời sống này, đời sống con người độc- nhất mà chúng ta có được.

Trong đạo Phật, vấn đề không đơn-giản như vậy. Nghiệp có thể được nhận biết như là một lực đưa con người trở lại cơi sinh-tử, dù cuộc sống mới sung-sướng hay đau-khổ. Như vậy, có nghiệp lành và có nghiệp dữ. Nghiệp vừa là nhân vừa là quả, và không chỉ giới-hạn trong một kiếp người. Nếu bạn làm điều thiện ngay trong kiếp này, bạn sẽ được hưởng quả lành ngay trong kiếp này, hoặc trong kiếp tiếp theo, hoặc trong một kiếp nào sau nữa trong tương-lai. Nhưng cho tới khi bạn đến được mức-độ của Phật hay một vị La-Hán, bạn cũng vẫn sẽ nuôi-dưỡng ư-định trở lại cơi-thế. Nói ngắn gọn, bạn vẫn bị ràng-buộc bởi nghiệp của bạn.

          Nghiệp là một thực-thể trong lănh-vực tâm-linh, do đó nó không phải là vật-chất thô-mộc. Trong lănh- vực nhân, nó có thể là ư của bạn, lời của bạn, hay hành- động của bạn (thân, khẩu, ư). Bất cứ giây phút nào bạn có ư-tưởng xấu, ư-tưởng đó sẽ dẫn-dắt bạn đến những hậu- quả khó lường trước được.

          Khi nào th́ bạn nhận lănh hậu-quả của những nghiệp xấu? Nếu đó là trọng nghiệp, bạn sẽ lănh hậu-quả ngay trong kiếp này, hoặc ngay trong kiếp sau. Nếu nghiệp không quá trầm-trọng, th́ ư-nghĩ của người ta lúc sắp lâm-chung (cận-tử nghiệp) sẽ dẫn người đó đến nơi đầu thai mới, chưa hẳn đă là cơi người, mà cũng có thể là cơi súc-sinh, ngạ-quỷ, hay địa-ngục, hoặc các cơi trời. C̣n có những nghiệp không xác định khi nào th́ trả, gọi là nghiệp bất định, và những nghiệp không đáng kể, có thể xóa bỏ được, gọi là nghiệp vô-hiệu-lực. Phật dạy là nghiệp xấu hay tốt cũng không bằng không có nghiệp, v́ chỉ khi hết nghiệp mới hy vọng thoát ṿng sinh tử mà thôi.

+++

 

 

(5)

KARMA

+++

 

          The concept of karma is not an exclusive trademark of Buddhism. Hinduism shares the same belief. But there is a big difference between the two religions. While  Hindus believe in castes and the impossibility of anyone to move up the caste system in one lifetime, Sakyamuni Buddha teaches that all men are equal, and even if you come from the lowest level of society, you can change your status anytime owing to your own efforts. In his sangha, or community of monks, are people from all walks of life, and they are equal in everything, except for the length of time they have spent in self-cultivation.

          Karma is what makes a being come back into life in innumerable times, under innumerable forms, until that being gains enough wisdom to break free from the chain of birth and death, and enter Nirvana.

          Just what is karma? Do we see it? Is it something that we can touch and feel?

          Karma, as commonly understood in the West, is something bad we have to bear because we have done something bad somewhere, sometime in the past. Within the framework of Christianity, which doesn't agree with the concept of rebirth, it is the law of cause and effect in the psychological realm for this very life, the only human life we have.

          In Buddhism, it is not such a simplistic concept. Karma can be seen as a force that pushes a being back into the cycle of life and death, whether that life is miserable or happy. So there is good karma and bad karma. Karma is both the cause and the effect, and transcends one life cycle. If you do good in this very life, you may reap the good results in this very life or in the coming life, or in another of the numerous subsequent lives. But until you reach the level of a Buddha or an Arahant, you will continue to nurture the wish to be born again. In short, you are still bound by your own karma.

          Karma is an entity in the realm of the psyche, so it is not crude matter. Within the realm of cause, it can be your acts, your words, or even your thoughts. The minute you entertain a thought of doing evil, that thought will lead you to consequences you may never imagine.

          When will you reap the consequences of your bad deeds? If your deeds are serious enough, you will have to bear the consequences right in this life, or in your next life. If they are not very serious, then your thoughts near the moment of your death will lead you to the place and conditions in which you will be born, which may be the world of humans, animals, various realms of heaven or hell, or the ethereal realm of ghosts. There are also karmas that are indeterminate as to the time of fruition, and karmas that are so negligible that they may not bear fruit whatsoever. The best thing is not to have karma at all, because only that way can you get out of the life and death cycle.

 

 

 

(6)

NHÂN-DUYÊN

+++

 

            Phật Thích-Ca dạy rằng không có cái ǵ trong đời sống mà lại có thể tự-tại độc-lập với những thứ khác. Mọi sự đều là kết-hợp những yếu-tố. Thí dụ, con người là sự kết-hợp của vật-chất và tâm-linh. Về vật-chất, ta có sắc, hoặc tứ đại, là chất dắn, chất lỏng, hơi nóng, và chuyển-động, mà cái chính là hơi thở (đất, nước, lửa, gió). Về mặt tâm-linh, th́ đó là kết-hợp của bốn yếu-tố, thọ (cảm-nhận), tưởng (tưởng-tượng, kư-ức, suy-tính), hành (ư-chí, hành-động), và thức (cảm-thức, nhận-thức, ư- thức).

          Sự kết-hợp những yếu-tố này thay-đổi mỗi một sát-na. Tại mỗi thời-lượng này, ta có thể coi tổng-thể đó là nhân. C̣n duyên là những yếu-tố bên ngoài ảnh-hưởng và tương-tác với nhân. Hai thou đó kết-hợp và tạo ra những t́nh-huống, hành-động, và hậu-quả. Đó là nguyên-tắc duyên khởi giải-thích cho mọi hiện-tượng trong đời sống. Không có ǵ tự đứng riêng. Mọi sự đều có tương-quan và tương-hệ.

          Quay lại con người, nghiệp là khát-vọng được tái- sinh. Nó là cái chất keo kết-hợp những yếu-tố vật-chất, làm cho một con người được sinh ra. Nó tự chọn bố mẹ, nơi chốn, và thời-điểm ra đời. Và nó bị lôi kéo vào trong chuỗi biến-cố h́nh như nằm ngoài tính-toán của nó. Và chúng ta gọi đó là số-mệnh. H́nh như mọi sự đă được an-bài. Chúng ta nh́n thấy hậu-quả, nhưng chúng ta không biết là nguyên-nhân đă có từ trước rồi, và chuyện tiếp theo chỉ là điều đượng nhiên phải xảy ra theo luật thiên-nhiên muôn thuở mà thôi.

          Cái chất keo kết nối t́nh-cảm, duyên-nợ, ân-oán, đáp-đền trong muôn ngh́n kiếp, đưa tới những chuyện như tiếng sét ái-t́nh, sự đau-khổ của người vợ trong tay người chồng vũ-phu, con cái bị bố mẹ hành-hạ, vv…

          Cũng cái duyên này làm cho hai người gặp nhau dù xa nhau ngh́n dặm, và biết bao nhiêu chuyện nhiệm-mầu khác đă xảy ra ở khắp mọi nơi, dọc theo chiều dài lịch-sử nhân-loại.

          Tất cả là do từ việc con người để cho cảm-xúc chi- phối, không biết rằng đau-khổ sẽ đến, và con người chỉ thôát khỏi đau-khổ khi nh́n qua được tấm màn che của ái-dục.

          Lúc đó, sẽ có giác-ngộ. Khi tâm đă được rửa sạch khỏi ư-tưởng và ước-muốn khuấy động, th́ sẽ thấy an-b́nh. Đó quả that là cơi tịnh-độ trong Đại-Thừa Phật- Giáo, đem lại nguồn an-ủi lớn cho con người.

          Về nhân-duyên, Phật dạy bài kệ sau:

Chư pháp tùng duyên sanh

Diệc tùng nhân-duyên diệt

Ngă Phật đại sa-môn

Thường tác như thị thuyết.

 

 

 

(6)

STANCE AND CIRCUMSTANCES

+++

 

          Sakyamuni Buddha teaches that nothing in the realm of life is a thing unto itself. Everything is a combination and inter-connection of elements. For example, a human is a combination of matter and psyche. In matter, we have four basic elements, the hard part, the liquid part, the heat, and the movement, notably the breathing. In psyche, we have four elements, the five senses (sensations), the mind (imagination & memory & thoughts), the will (intentions & actions), and the perceptions (consciousness).

          This combination of multiple fluid and dynamic elements changes every nanosecond, at which point we might consider as a stance. Then we have circumstances, the outer conditions that affect the stance. Together, they bring about situations, acts, and consequences. This great principle of connectivity is what accounts for life as it unfolds before our eyes. Nothing is independent. Everything is connected and inter-dependent, though we might not be aware of the fact.

          Getting back to the human being. Karma is the urge, the craving to be reborn. It is the glue that binds the material elements and brings about the birth of a human being. It chooses the parents, the time, and the place to come into life, of its own will. And it will be pulled along into the chain of events that seem to be out of control, not of its own making anymore. And we have what is called fate

 . It seems everything is pre-determined. We see the consequences, but we are not aware that the cause has already been there, and what comes after is only according to the inevitable process of nature.

          This connectivity, this binding together of sentiments, debts, compensation, restitution, and retribution in innumerable lifetimes, leads to things such as love at first sight, the miseries of a battered wife who simply can't escape the reign of her brutal husband, the suffering of children in the hands of a wicked father, etc…

          This connectivity also brings together strangers who become lovers from a chance encounter, and innumerable miraculous happenings everywhere, at any point in human history.

          All of this is due to a blindness in human beings to let their sensations reign, who do not recognize that a basic truth in all this is suffering, and this suffering can only end when they are calm enough to see through the veil of lust.

          Then and there, true bliss comes. From a psyche cleansed of impure thoughts and desires, a miraculous state of serenity fills oneself and all around. It is truly the pure land that is such a great comfort and consolation in Mahayana Buddhism.

+++

 

 

 

(7)

NGĂ, VÔ-NGĂ & VÔ-THƯỜNG

+++

 

          Cái ta là một cái ǵ hiển-nhiên và quan-trọng đối với con người đến nỗi khó có thể h́nh-dung ra được một cái ǵ gọi là “vô-ngă”. Có lẽ đối với đa số chúng ta, “vô-ngă” là một cái ǵ vô-nghĩa. Vậy mà trong đạo Phật, “vô-ngă” lại là một ư-niệm trung-tâm.

          Chúng ta có thật. Chúng ta có thể-xác và tinh- thần. Chúng ta có thể nghe, nh́n, ngửi, nếm, sờ mó, và suy nghĩ. Chúng ta cảm thấy đau đớn, vui mừng, buồn rầu, hạnh-phúc. Chúng ta ư-thức được thế-giới xung quanh. Chúng ta biết ḿnh là ai, đang đi về đâu, có những dự-tính ǵ. Và chúng ta cũng đau-khổ. Vậy th́ ai bảo là không hề có “cái ta”?

          Thế nhưng khi nói về cái ta, chúng ta đang nói về cái ǵ đây? Thân-xác, tâm-hồn, cảm-giác, kư-ức, hy-vọng, lo sợ? Cái ta mà chúng ta nhận-thức được chẳng qua chỉ là cái mà trong Phật giáo gọi là tục-đế, nghĩa là sự- thực trong ư-nghĩa thế-tục. Khi chúng ta nghĩ xa hơn một chút, chúng ta sẽ thấy rằng “cái ta” chẳng qua là một tập-hợp cả ngh́n phần-tử khác nhau mà lại thay đổi từng tích-tắc. Đó gọi là “chân-đế”. Cái anh Tèo lúc mười tuổi không phải là cái cụ Tèo lúc 70 tuổi. Cô Tấm hôm qua khác cô Tấm hôm nay. Bạn lúc này đă khác xa bạn năm phút trước. Chúng ta luôn ở trong một trạng-thái thay-đổi liên-tục. Mỗi một sát-na, cả triệu tế-bào trong ta chết đi để được thay-thế bằng những tế-bào mới. Khi một người qua đời, người đó không c̣n hiện-diện chăng? Cái mà ta hay gọi là linh-hồn của người ấy c̣n hiện-diện chăng? Mà linh-hồn là cái ǵ nhỉ? Là khí hơi, khí ôxy, khí hydrô, hay là cái ǵ khác? Nó c̣n cảm-xúc, nh́n, nghe thấy ǵ không? Nó có kư-ức không? Nó sẽ bay lên Thiên-Đàng hay chui xuống Địa-Ngục? Hay nó c̣n quẩn-quanh đâu đây như một bóng ma?

          Chúng ta thấy rơ là con người thật là mong-manh, sống và chết hiện-diện bên nhau, như ngày và đêm, mặt trời và mặt trăng. Mọi thứ quanh ta đều như thế cả. Chúng ta biết trái đất này đă có từ bao lâu. Nhưng cái đó nào có nghĩa-lư ǵ đối với tuổi của vũ-trụ? Thế mà ngay cả vũ-trụ cũng sẽ có một lúc nào đó tan biến đi. Nguyên-lư cơ-bản của hiện-tượng-giới là sự vô-thường. Chẳng có ǵ là vĩnh-cửu.

          Nếu cái ta đă không thật theo chân-đế bởi v́ nó vô-thường, th́ những cái ǵ thuộc về ta cũng thế mà thôi. Vậy mà ai nấy đều bám víu lấy cái ḿnh có, cái ḿnh cho là thuộc về ḿnh. Và khi cái đó mất đi, ta buồn, ta khóc, ta than-van sầu-tủi. 

          Nếu ta hiểu rằng “ngă” cũng đồng-thời là “vô-ngă”, th́ ta sẽ dễ dàng chấp-nhận cuộc sống đúng như thực-sự là như thế, và sẽ không c̣n quá bị ảnh-hưởng bởi những kinh-nghiệm chấn-thương. Chúng ta sẽ có thể đối-đầu với những sự việc không mấy hài ḷng với một sự b́nh-thản, và sẽ không bị những biến-cố quá trọng- đại làm ta mất hết tự-chủ.

 

+++

 

 

(7)

SELF & NO-SELF & IMPERMANENCE

+++

 

          The self is something so real and central to human beings that we simply can't conceive of anything as no-self. To us, no-self doesn't seem to mean anything at all. Yet in Buddhism, no-self is a central concept.

          We are real. We have a body and a mind. We can see, hear, smell, taste, touch, and think. We feel pain, joy, sadness, happiness. We are aware of the outside world. We know who we are, where we're going, what plans we make. And we do suffer. How then can anyone say there is no self?

          And yet what is this “self” we're talking about? Is it the body, the mind, the feelings, the memory, the hopes, the fears? The self as we know it is only what may be called a “banal truth”. When we think of a higher truth, we see that the self is nothing more than a combination and inter-connection of a million things that change continually every nanosecond. So what is it that we can truly call “self”? The Joe at ten isn't the same as the Joe at seventy. The Jean of yesterday isn't the same as the Jean of today. You aren't the same as five minutes ago. We are in a state of continual flux. Every nanosecond, millions of cells in our body die, to be replaced by millions of new cells. And when a person dies, does he cease to exist? Does his “soul” still exist? And what is this “soul” anyway? Is it gas, hydrogen, oxygen, or what? Does it still feel, see, hear? Does it have memory? Does it fly to Heaven, or go down to Hell? Does it still hang around in the form of a ghost?

          We see clearly that human life is very fragile, life and death co-exist, like night and day, the sun and the moon. And so it is with everything around us. We know how long the earth has been in existence. And what is that, compared to the age of the universe? And even the universe has its beginning and its end. The underlying principle is impermanence. Nothing lasts forever.

          If the self is not real from the viewpoint of a higher truth because it is impermanent, then how can all the things belonging to oneself be any less so? And yet everybody seems to cling to everything that seems to belong to himself or herself. And when anything that belongs to yourself is no more, you are sad, you cry, you mourn the loss.

          If we understand that self is no-self at the same time, then we will be in a much better position to accept life as it is, and will not be so affected by shattering experiences. We can calmly face unpleasant facts, and not be torn apart by overwhelming events.

 

+++

 

 

(8)

ĐAU-KHỔ, NGUYÊN-NHÂN & CÁCH CHỮA-TRỊ

+++

 

          Trong Kinh Chuyển Pháp-Luân, lời tuyên giảng pháp đầu tiên của Phật Thích Ca sau khi chứng quả Bồ-Đề, Ngài dạy về Tứ Diệu Đế, bốn chân-lư nhiệm-mầu, là khổ, tập, diệt, và đạo. Ngài dạy, khổ là một sự thực không thể chối căi trong đời sống con người. Trong những kinh-điển tiếp theo, Ngài nêu rơ chi-tiết những loại khổ như sau.

          Trước hết, ta có hành khổ, cái khổ do sự đ̣i-hỏi không bao giờ có thể thỏa-măn hết. Rồi đến hoại khổ, cái khổ thấy mọi thứ cứ tan biến theo thời-gian. Cuối cùng là khổ khổ, cái khổ này lôi kéo cái khổ khác măi măi không thôi.

Đứng từ góc độ cuộc sống con người, th́ ta có sinh khổ, lăo khổ, bệnh khổ, tử khổ.

Đứng về phương diện tương quan, ta có ái-biệt-ly khổ (yêu thương mà phải xa cách), oán-tắng-hội khổ (thù oán mà phải ràng buộc với nhau), cầu-bất-đắc khổ (muốn mà chẳng được), và ngũ-ấm-xí-thạnh khổ (năm uẩn cứ sinh sôi, quấy phá ḿnh).

          Tại sao chúng ta đau-khổ? Bởi tập, nghĩa là sự tích lũy tham sân si, sự ám-ảnh thường-trực về những cái ǵ thuộc về ta, bám víu vào những cái thuộc về ta.

          Muốn chữa bệnh khổ th́ ta phải diệt, nghĩa là triệt tận gốc nguyên-do đau-khổ, là sự ly tham, sự từ bỏ, sự giải- thoát và không c̣n chấp-trước.

          Con đường diệt-khổ là đạo, sự thực-hành Bát Chánh Đạo như sau:

                    - Chánh kiến

                    - Chánh tư-duy

                    - Chánh ngữ

                    - Chánh nghiệp

                    - Chánh mạng

                    - Chánh tinh-tấn

                    - Chánh niệm

                    - Chánh định.

Chánh kiến là nh́n sự vật đúng như tứ diệu đế (khổ, tập, diệt, đạo). Chánh tư-duy là hiểu vô-thường, vô-ngă và nhân- duyên là những nguyên-lư của đời sống. Chánh ngữ là không nói dối, nói lời đâm thọc, nói lời thô tục, nói lời chia rẽ. Chánh nghiệp là không sát-sinh, không trộm cắp, không tà- dâm. Chánh mạng là làm nghề lương-thiện. Chánh tinh-tấn là luôn luôn tu-tập để cải-tiến. Chánh niệm là tập-trung chú ư vào việc ḿnh làm. Chánh định là tĩnh-tâm, quán-sát sự việc theo đúng một đề-tài, không để tâm lăng-xăng theo trần- cảnh.

          Ta cần để ư chữ “chánh” trong Phật-giáo. Chánh có nghĩa là nh́n sự việc, nói lời hay hành-động theo lẽ tự-nhiên ngay trong hiện-tại, không vọng-động, không để tâm ḿnh bị chi-phối bởi thiên-kiến, t́nh-cảm riêng tư. Nghĩa là thấy, nói và làm như thực.

 

 

(8)

SUFFERING & THE CAUSES & THE CURE

+++

 

          In The Turning of the Dharma Wheel Sutra, the very first lesson Sakyamuni Buddha taught humankind after His enlightenment, He mentioned the Four Noble Truths, and the first of these is the reality of Suffering. In  later sutras, He explained this concept in detail.

          First, we suffer because of our desires that can never be completely fulfilled. Then we suffer because we see that nothing lasts, and in the end we have to face disintegration. Then we suffer because suffering breeds suffering.

          From the point of view of life duration, we suffer when we are born, when we get old, when we get sick, and when we die.

          From the point of view of human relations, we suffer because we cannot be always close to the ones we love, because we have to be associated with the ones we hate, because we don't always get what we wish for, and because we are bound by the five components, namely our body, our sensations, our wishes, our actions, and our consciousness.

          The causes of our suffering is traced to our craving, our anger, our ignorance, our ego, our arrogance, our fear, our obsession with everything that concerns ourselves, our clinging to what we think belongs to us.

          The cure to suffering is the total and eternal destruction of the root cause of suffering, the distancing ourselves from lust, our abandonment of lust, our letting go of prejudices and preconceptions.

          The way that leads to the cure is the practice of the eight-fold path as follows:

                    - Right view

                    - Right thought

                    - Right speech

                    - Right action

                    - Right livelihood

                    - Right cultivation

                    - Right mindfulness

                    - Right concentration.

Right view means seeing life in the light of the four noble truths. Right thought means seeing impermanence, no-self and inter-connection as the basic conditions of life. Right speech means staying away from lying, slandering, crude speech, and speech causing discord. Right action means staying away from killing, stealing, and wrongful sex. Right livelihood means choosing means of making a living that are not evil. Right cultivation means always trying to improve oneself. Right mindfulness means perceiving everything as they really are, and paying attention to everything we do. Right concentration means staying calm and still and putting all of one's thoughts in one subject of contemplation.

 

 

(9)

THẬP-NHỊ NHÂN-DUYÊN & TAM ĐỘC

+++

 

          Do đâu mà ṿng luân-hồi cứ trói buộc con người măi măi vào cực-h́nh đau-khổ? Điều này được giải-thích bằng ṿng thập-nhị nhân-duyên.

          Khởi đầu, do vô-minh mà có hành, nghĩa là khát- vọng được tái-sinh, do nghiệp, dù lành hay dữ xúi nên. Từ đó, thức nảy sinh, đưa đến danh sắc, sự kết-hợp của hai yếu-tố thân và tâm. Rồi đến lục nhập, nghĩa là sự xuất-hiện của sáu giác-quan, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân,  ư. Do có sáu giác-quan, mà có xúc, sự tiếp-xúc với ngoại-cảnh, thọ, sự cảm-nhận dễ chịu hay khó chịu, từ đó nảy sinh ái, sự yêu mến, quyến-luyến, thủ, sự muốn giữ chặt cái ḿnh thích, hữu, sự chiếm-hữu, sinh, sự xuất-hiện những hiện-tượng, và cuối cùng là lăo tử, già chết.

          Ṿng nhân-duyên đă hoàn-tất, và nếu trí-huệ không phát-triển trong đời sống hiện-tại của con người, ṿng nhân-duyên lại tái-tục, mười hai mắt xích lại tạo nên ṿng tṛn mới.

          Tại sao trí không thể phát-triển trong một đời người? Bởi v́ tam độc tham sân si làm ta u mê.

          Tham che lấp trí khôn của ta, làm ta hành-động theo dục-vọng để chiếm-hữu cái ta yêu, bất kể hậu-qủa như thế nào. Sân là do ư-thức quá mạnh về “cái ta”, khiến ta phải ra sức bảo-vệ nó bằng mọi giá. Si là sự u mê, không nh́n thấy mọi sự việc theo đúng như thực- chất của chúng. Si gồm có ba thành tố, mạn, tự cho ta là hơn người, kiêu-căng tranh thắng. Rồi tới nghi, sự kém khả-năng, không thấy nguyên-lư nhân-quả là luật của thiên-nhiên. Cuối cùng ta có ác kiến, gồm bốn thứ: thân kiến, cho ta là có thật, biên kiến, nh́n thiên lệch về một bên nào đó mà cho là phải và mọi người khác đều trái. Thứ ba là kiến thủ, bám víu lấy cái ḿnh cho là đúng, không chịu thay đổi. Cuối cùng là giới-cấm thủ, nhắm mắt tin theo và bám giữ lấy những giới-cấm áp-đặt lên ḿnh, không cần suy-xét xem đó là đúng hay sai.

          Trong Kinh Kalama, Phật đă khuyên chúng ta như sau:

- Đừng tin bất cứ điều ǵ bởi v́ ngươi đă nghe thấy người ta nói thế.

- Đừng tin vào những truyền-thống bởi v́ chúng đă được truyền-thừa qua nhiều thế hệ.

- Đừng tin vào điều ǵ v́ nhiều người nói ra và đồn đăi như thế.

- Đừng tin vào điều ǵ v́ nó đă được ghi trong sách đạo của ngươi.

- Đừng tin vào điều ǵ do uy quyền của bậc thầy hay bậc trưởng thượng.

- Nhưng, sau khi đă nhiều lần nhận-xét và phân-tích, ngươi thấy điều ǵ hợp với lẽ phải, đưa đến tốt-đẹp cho ḿnh và cho người, th́ hăy chấp-nhận nó và sống theo chừng mực đó.

 

+++

(9)

THE TWELVE-LINK CHAIN OF BIRTH AND DEATH & THE THREE POISONS

+++

 

          How is it that the cycle of birth and death and rebirth goes on and on and on, binding humans to the seemingly never-ending ordeal of suffering? This is explained in the twelve-link chain of inter-connections.

          To begin, it is our lack of enlightenment that leads us to a craving to be reborn, due to our karma, good or bad, an urge that pushes the remnants of our psyche to form consciousness. This consciousness leads to a combination of energy and matter, and brings into life a primitive form of the six sense organs. A being is born, and receives outside stimuli through its six sense organs, perceives them as pleasant or unpleasant, develops attachment and desire, longs to keep them for itself, strives to own them. Life continues in all its complexities, leading finally to old age and death. The circle is complete, and if intelligence is not developed leading to enlightenment, another round of the twelve-link chain is set in motion.

          How is it that intelligence is unable to develop within the span of one's lifetime? It is because of the three poisons, or troublemakers: lust, anger, ignorance.

          Lust obstructs us from seeing things as they are, leading us to all the bad deeds due to our blind desire to own what we love, regardless of all consequences. Anger comes from an overblown perception of the self, and the need to defend it at all costs. Ignorance is the inability to see things as they really are. It consists of three components. First is arrogance, an overblown conception of one's self that is higher than others. Then comes doubt, the inability to see and understand the law of cause and effect. Finally, we have bad views, comprised of four branches: thinking that the self does exist as an independent entity, holding one-sided views, thinking that whatever view we hold is true and correct, and all others are wrong, obstinately and blindly clinging to one's views, and clinging to the commandments of one's faith, regardless of whether they are right or wrong.

          In the Kalama Sutra, Sakyamuni Buddha teaches:

- Do not believe in anything simply because you  have heard it.                                                                           

- Do not believe in traditions simply because they have been handed down for many generations.

- Do not believe in anything simply because it is spoken and rumored by many.

- Do not believe in anything simply because it is found written in your religious books.

- Do not believe in anything merely on the authority of your teachers and elders.

- But when, after observation and analysis, you find anything that agrees with reason, and is conducive to the good and benefit of one and all, then accept it any live up to it.

 

 

 (10)

TÂM & THỨC

+++

 

          Như đă giải-thích trong một bài trước, tâm là kết hợp bốn thành-tố không thuộc về lănh-vực vật-chất: thọ, tưởng, hành và thức. Một cuốn sách đào sâu vào tiến- tŕnh tạo ra tâm trong Phật giáo có tên là THẮNG-PHÁP TẬP-YẾU-LUẬN, trong truyền-thống Tiểu-Thừa, nêu rơ những bước như sau trong quá-tŕnh tâm-thức nảy sinh.

Cái gốc của quá-tŕnh tâm-thức là ḍng Bhavanga, tựa như một ḍng vô-thức rung đều đều như trong khi ta ngủ không mộng-mị. Ngay khi một đối-tượng xuất- hiện, dù từ bên ngoài hay trong đầu óc của ḿnh, th́ ḍng Bhavanga rung lên hai sát-na, rồi đến ngũ-môn-hướng tâm , năm giác-quan hướng tới đối-tượng. Tiếp theo là tiếp-thọ tâm và suy-đạc tâm, mỗi cái kéo dài một sát-na, trong đó tâm của ta xác-định và đánh-giá đối-tượng. Rồi đến tiến-tŕnh Javana, kéo dài bảy sát-na, ở đó tâm phát-sinh ra luồng năng-lực để quyết-định sẽ làm ǵ với đối-tượng. Tất cả quá-tŕnh kéo dài mười bảy sát-na. Phần quan-trọng nhất trong quá-tŕnh là tiến-tŕnh Javana, ở đó ta sẽ tạo nghiệp, dù lành hay dữ.

Nghiệp biểu-hiện ra ở thân, nghĩa là hành-động, khẩu, nghĩa là lời nói, và ư, nghĩa là mới chỉ trong ư- nghĩ. Cũng có thể là trong tiến-tŕnh này, ta không lưu- giữ lại một ư-hướng ǵ, và đó gọi là nghiệp vô-kư, nghĩa là không tạo nghiệp.  Hăy thữ lấy một thí-dụ đơn-giản để giải-thích rơ hơn đoạn văn trên. Giả dụ ta đang đi chơi trên phố, không lưu-tâm vào một cái ǵ. Bất-ngờ, từ góc phố hiện ra một cô gái. Bạn thấy cô ta, để ngũ-quan hướng về cô ta, và thấy cô ta đẹp và hấp-dẫn. Thế là tiến-tŕnh Javana bắt đầu, bạn muốn tán cô ta, dẫn cô ta đi ăn. Một tương-quan đă được tạo ra từ hư-không. Rồi một sáng nào đó, bất-ngờ bạn nhớ tới cô ta, bạn nhớ từng dáng nét, ánh mắt, nụ cười, những thú-vị của lần gặp trước. Bạn muốn gặp lại cô ta, dù cô ta đă có gia-đ́nh, và chính bạn cũng có gia-đ́nh nữa. Bạn muốn chiếm-hữu cô ta, giữ cô ta cho riêng ḿnh, xúi cô ta bỏ chồng con, và bạn cũng muốn bỏ bê vợ con ở nhà nữa. Aùc-tâm nảy sinh, bạn tính-toán, âm-mưu, ám-ảnh bởi ư nghĩ chiếm-hữu cô ta, cho rằng đó là t́nh yêu đích-thực. Tiếp đó là một chuỗi mắt xích sự-kiện có thể đưa tới những hậu-quả mà bạn không sao lường trước, một thứ “nam châm định-mệnh”. Từ không trở thành có. Và đau-khổ tiếp theo, chắc như bắp. Từ lănh-vực mù-mờ của tâm, đến những tác-động hiện-thực của thức, dẫn đến hành- động cu-thể.

          Phạm-trù THỨC quan-trọng trong Phật-giáo đến độ có riêng một tông-phái chỉ chuyên đào sâu vào khía cạnh “thức” của chúng-sinh, gọi là DUY-THỨC TÔNG, hay PHÁP-TƯỚNG TÔNG. Theo tông này, có tất cả tám thức khác nhau: tiền-ngũ thức, chỉ thức từ năm giác quan là nhăn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân. Đến thức thứ sáu thuộc về ư, gọi là ư thức. Thức thứ bảy là mat-na thức, thức chuyên về tự ngă. Thức thứ tám là A-lại-da thức, hay là tạng thức, chứa đựng tất cả chủng tử xấu tốt, chỉ chờ dịp là hiện hạnh ra ngoài.

 

 

(10)

PSYCHE & COUNSCIOUSNESS

+++

 

          As explained in an earlier note, psyche is a combination of four components that do not belong to the world of matter: sensations, thoughts, actions, and perceptions. A book that delves deeply into the process of psychical formation in the Hinayana tradition titled Abhidhammatthasangaha details the steps in psychical formation as follows: The base of psychical life is called the Bhavanga psyche, a kind of vibration measured in the smallest, indivisible time unit called ksana. It is like the pure throbbing of subconsciousness, consisting of undisturbed psychical ksana. As soon as a subject appears, the Bhavanga psyche vibrates in two ksanas, then the five sense organs direct themselves to the subject. This is followed by perception and mental measurement, lasting one ksana each, leading to the recognition and evaluation of the subject. Then comes the Javana process, lasting seven ksanas, in which the psyche emanates an energy that decides what to do with the subject. The total temporal duration for each psychical unit lasts seventeen ksanas. The most important segment of this unit is the Javana process, where the psyche decides on an intention that can lead one to good karma or bad karma. And from this immaterial sphere of thoughts come verbal or actual deeds.  But it could very well be that in this Javana process, we do not develop and hold any attachment, and let the recognizing part of the psychic process go dormant, and thus no karma is created, good or bad.

          Let us try to illustrate all this in a simple example. You walk along the street not thinking of anything. Suddenly, a girl appears from around a street corner. You see her, direct all your sense organs toward her. You acknowledge her presence, evaluate and measure, and decide that she is beautiful. Then a Javana process starts, you want to court her, take her to lunch. A connection has been created out of nowhere. Later on, one morning, her image suddenly comes to your mind, you remember her look, her eyes, her way of smiling, the fun you had with her on the last encounter. You want to see her again, even though she is already married, and you are married yourself. You want to take her away from her family, her husband, her children, and you want to forsake your own family. Bad thoughts come into mind, you scheme, you are obsessed with thoughts to own her for your own self, you think you have found true love. From there starts a whole chain of events that might lead you to unforeseeable consequences, a kind of “fatal attraction”. That's how nothing becomes something. And suffering is the result, for sure. From the elusive sphere of the psyche come the concrete workings of the consciousness.

          That's why in Buddhism, there's a saying: the past, the present, the future, are created by the psyche. A million phenomena are the various forms of the consciousness.

 

 

 (11)

SẮC & KHÔNG

+++

 

          Cũng y như trong lănh vực cá nhân, ta có ngă và vô-ngă, trong lănh vực “pháp”, hay hiện tượng giới, có Sắc và Không. Sắc là cuộc sống mà ta cảm-nhận trong nghĩa tục-đế. Chân-đế th́ lại là không. Đó là hai mặt của cùng một chân-lư. Do đó mà có chữ “chân-như”. Do đó mà “sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc, sắc tức là không, không tức là sắc, thọ tưởng hành thức cũng là như thế”, như trong Bát-Nhă Tâm-Kinh, bản kinh được nhắc nhở và tụng đọc nhiều nhất trong các kinh-điển Phật- giáo Đại-Thừa.

Sắc là hiện-thể. Không là phi hiện-thể. Làm sao có thể quan-niệm hiện-thể lại chẳng khác phi hiện-thể? Thật là trừu-tượng khó hiểu. Nhưng xin hăy xét những ví dụ sau:  

Photon là ǵ? Là một lượng-tử phát-quang điện-từ, thường được coi như một hạt cơ-bản, đồng-thời cũng là phi-hạt có khối-lượng bằng zê-rô và độ-quay bằng một.”

Neutrino là ǵ? Là một lepton trung-ḥa không có khối-lượng, hoặc khối-lượng gần bằng zê-rô.

Hạch-tâm là ǵ? Là khối-lượng điện-từ dương trong một nguyên-tử gồm những neutron và proton mà đa-phần là vật-chất nhưng lại chỉ chiếm giữ một phần nhỏ của dung-lượng nguyên-tử. Phần c̣n lại chính là khoảng không, hay phi hiện-thể.

(Những từ trên đều lấy định-nghĩa từ từ-điển Random House Webster College Dictionary, ấn bản 1991).

Phổi là ǵ? Chẳng phải là hai cái túi gồm những túi nhỏ li ti chứa đầy dưỡng-khí hay thán-khí hay sao? Vậy phần phi hiện-thể đó chẳng phải là một phần của phổi hay sao?

Hệ-thống kinh-mạch là ǵ? Là một hệ-thống gồm hai ṿng nối liền trong con người có ảnh-hưởng tiên-quyết đến sức khỏe nhưng hiện nay Tây y chưa thể t́m ra để kiểm-nghiệm.

Cái nhà là ǵ? Chẳng phải là những phần hiện-thể như mái, tường, cửa, sàn, cùng một lúc với khoảng trống bên trong nhà, mà phần này lại là quan-trọng nhất dùng để ở hay sao?

Vũ-trụ là ǵ? Chẳng phải là vô số vật-thể trong khoảng không tương-quan mật-thiết với nhau hay sao?

Lỗ đen là ǵ? Là một cái ǵ phi vật chất mà lại có sức cuốn-hút kinh-khủng, tiêu-diệt bao nhiêu là vật-thể trong vũ-trụ.

Và vi-tính là ǵ, có thể thiết-lập được không, nếu không có con số không? Những h́nh ảnh trên máy truyền-h́nh là ǵ, nếu không phải là kết-hợp của vô-số điểm chấm cách nhau bởi những khoảng không?

Chỉ bấy nhiêu thí-dụ đủ để chứng-minh một cách vô-cùng rơ ràng minh-bạch về câu “sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc, sắc tức là không, không tức là sắc” rồi.

 

+++

 

 (11)

BEING & NON-BEING

+++

 

          We are so immersed in the world of things and phenomena that it seems impossible to comprehend something like non-being. But in Buddhism, non-being is another central concept. Let us try to see if we can have an idea of what this is all about.

In the Heart Sutra, the shortest, and most recited sutra in the Mahayana tradition, we have this sentence: “…being is not different from non- being, non-being is not different from being, being is non- being, non-being is being, and the same goes with sensations, thoughts, actions, and consciousness…”

          We know that computer science is built on the binary system of zeros and ones. And we know from this seemingly simple combination, our whole world of communication is created. In quantum mechanics, we talk about particles and antiparticles, about massless electrically neutral leptons. Einstein's famous formula computes mass in terms of energy, connecting mass and non-mass. A house is basically the space contained by material elements, used for the purpose of living or other activities. The universe is countless planets and stars in space. In the physical world as we know it, we see plenty of examples to prove that things are made of a combination of mass and the void. Even in something as small as a nucleus, we see that matter forms a very small part of the whole.

In the realm of the psyche, we can see this in even clearer light. In perception, we must have three elements for something to become a reality. First, we must have a sense organ. Then, we must have the thing to be perceived. Finally, the combination of these two would lead to the actual awareness of it. Lacking any of these three, nothing can be formed. So if a thing is there but we do not perceive it, can we really say it exists for us?

Then comes the question of memory. Sometimes we remember things, and sometimes we don't. When we do, things exist. When we don't, do they stop being in existence?

In the Suramgama Sutra, Sakyamuni Buddha has shown his disciple Ananda that the psyche is there and at the same time not there, that we cannot locate it anywhere in our body. It is a great discourse on logic that proves this concept of being and non-being to the full.

When a person dies, his body isn't in the world anymore, but who can say he leaves no trace behind? He is still in the hearts of his loved ones, and for people who have contributed to humankind in any way, their names are remembered, their works still stay with time. Can we say they are really no more?

The French thinker Jean Paul Sartre has written a very interesting book titled “L'être et le Néant”. This book should give us food for thought about our subject, although Sartre is basically talking about life and death, and doesn't see that they are but a continuum and a circle.

 

 

(12)

SÁM-HỐI & SIÊU-THOÁT

+++

 

          Là chúng-sinh đă trải qua vô-lượng kiếp và gây ra vo- lượng nghiệp xấu, chúng ta nên biết rằng thú-nhận lỗi-lầm và nguyện hết ḷng sửa-đổi là điều vô-cùng cần- thiết. Do đó, sám-hối là một ư-niệm trung-tâm trong Phật-giáo. Điều mầu-nhiệm trong việc sám-hối là nếu ta thành-tâm hối-cải, th́ những hậu-quả tai-hại có thể được giảm đi nhiều, và có những trường-hợp c̣n được ân-xá nữa. Như đă đề-cập trong một bài trước, chính cái Tâm là cái tạo ra quá-khứ, hiện-tại và tương-lai. Trong Kinh Đại-Tập, có đoạn sau này nói về cái lợi của sám-hối:

 

Như áo dơ trăm năm, một ngày nào đó, đem giặt th́ sẽ được sạch sẽ. Như thế, trong trăm ngàn kiếp đă tạo các nghiệp chẳng lành, dùng lực Phật-pháp, khéo thuận suy-nghĩ, một lúc nào đó trong ngày nào đó, sẽ được tiêu-diệt hết tội.

         

Trong khóa lễ nhật-tụng của Đại-Thừa Phật-giáo, luôn luôn có phần sám-hối. Sự thực-hành nhiệm-mầu này sẽ làm cho tâm của người thực-hành được thanh- tịnh, giảm bớt khổ-đau do ư-thức về các tội-lỗi của ḿnh đem lại.

         

Ư-niệm sám-hối cũng vô-cùng quan-trọng khi một người sắp ĺa đời. Anh ta sẽ nh́n lại toàn-bộ cuộc đời với tinh-thần sáng-suốt hơn, thấy rơ lỗi-lầm trong quá-khứ, xin được tha-thứ, và sẽ ĺa đời trong tinh-thần yên- lành, có thể do đó mà tái-sinh trong các cơi phước. Tuy nhiên, như đă đề cập trong một bài trước về cận tử nghiệp, nhiều khi gần lúc lâm chung, nếu không có tâm định kiên cố, người ta có thể bị lôi kéo vào những ư-nghĩ không tốt mà không kiểm-soát được. V́ vậy mà tông-phái Tịnh-Độ rất được tin theo, v́ người Phật-tử chỉ cần tập-chú vào việc tụng câu “Nam Mô A-Di-Đà Phật” mà thôi là được siêu-sinh lên cơi Tịnh-Độ của Phật A-Di-Đà.. Bởi nhất-tâm bất-loạn như thế mà tâm ư được nhẹ nhàng, dễ văng-sinh vào cảnh giới yên vui.

 

Nhưng dù sao đi nữa, những người thân của người sắp lâm-chung cần phải hiểu rằng, do tính-cách tương-liên giữa muôn loài, người sống có thể giúp đỡ nhiều cho người quá-cố tái-sinh vào các cơi lành bằng cách tụ-họp, mời chư-tăng đến hướng dẫn đọc các chú Đại-Thừa cho người quá-văng, như Chú Lăng-Nghiêm, Chú Đại-Bi, Chú Văng-Sinh, vv.  Thời-gian 49 ngày là thời- gian tối-đa trước khi người quá-văng tái-sinh vào một cảnh-giới mới. Do đó, đây là khoảng thời-gian độc- nhất mà người sống có thể giúp cho người chết đi t́m tới cơi lành, tránh khỏi bị đọa vào ba đường ác là ngạ-quỷ, súc-sinh và địa-ngục.

 

+++

 

   

(12)

REPENTANCE &MAKING AMENDS & DELIVERANCE

+++

 

As sentient beings who have gone through so many lives and committed so many bad deeds, we should know that it is essential to look back at all the bad karmas that we have collected throughout innumerable lifetimes, and make atonement for them. Repentance is one of the central concepts in Buddhism. The wonder about repentance is that if we honestly and earnestly repent, and strive to make amends for the wrong deeds, the consequences might be significantly alleviated, and in many cases completely lifted and erased.

         

We have mentioned in an earlier note that Psyche is what brings about the past, the present, and the future. In the Great Collection Sutra of the Mahayana tradition, there's this wondrous line: “Just as a piece of garment that has been soiled for a hundred years becomes clean one day owing to washing, just so bad karmas caused in a hundred thousand lifetimes, owing to the power of the Dharma, with right contemplation, will be cleansed of bad effect in due time.”

         

In the daily practice for Buddhists, there is always an important part dedicated to the ritual of repentance and taking a vow to make amends. This wonderful practice has the great effect of calming the psyche of the practitioner, freeing him from the distressing pain that guilt might bring him.

         

This idea of repentance and making amends is also extremely important near the time of death of a human being. One looks back at one's whole life, and sees everything with a clear eye. Mistakes are admitted, forgiveness is requested, and the psyche can enter the world of death with serenity. This is the pre-condition for rebirth into good realms. And because of the inter-connection of everyone and everything, the living can greatly help the dead in this journey by gathering together and reciting Buddhist mantras. A duration of forty nine days is the longest time the psychical remnants of a dead body have in which to choose the next life, and so this time duration is the only time available for the living to help the dead. Deliverance from the bad realms can then be ensured.

 

 +++

   

 

(13)

TÍN, NGUYỆN & HẠNH

+++

 

          Tín là điều-kiện tiên-quyết để một Phật-tử tiến bước vững-vàng trên con đường tu-tập. Nhưng đây không giống như trong nhiều tôn-giáo khác, tín trong Phật-giáo là tin-tưởng vào những điiều hoàn-toàn phù- hợp với khoa-học, dựa trên quan-sát tinh-tế và như-thực về hiện-tượng-giới. Trong Kinh Niệm-Phật Ba-La-Mật, có đoạn như sau:  Thế nào gọi Tín Tâm? Trước hết là phải đặt trọn ḷng tin chân-thật vào Lư Nhân-Quả một cách sâu- chắc, kiên-cố, và không hề nảy sinh một ư-tưởng hoặc một hành-vi trái ngược với Lư Nhân-Quả. Phải thấy hoạt-dụng của Lư Nhân-Quả dung-thông ba đời, đó là Quá-Khứ, Hiện- Tại và Vị-Lai, rơ ràng như những đường chỉ dọc ngang trên ḷng bàn tay. Sau đó, tin rằng kiếp sống thế-gian là vô- thường, mạng người ngắn-ngủi như hơi thở ra vào, tất cả các pháp hữu-vi đều là huyển-hóa, không có chủ-tể, niệm-niệm  sinh-diệt không ngừng, từng sát-na biến-hoại chẳng nghỉ, tất cả đều đưa tới khổ-năo, vô-minh và trói-buộc.

          Nguyện là một đặc-tính quan-trọng khác của Phật- giáo. Khi Đức Thích-Ca Mâu-Ni bỏ mọi của cải thế-gian để đi tu, Ngài đă lập bốn lời nguyện như sau:

-         nguyện tế chúng-sinh khổn-ách (nguyện tế- độ cho chúng-sinh thoát khỏi khổn-ách)

-         nguyện trừ chúng-sinh hoặc-chướng  (nguyện trừ những lầm-lạc che mắt chúng-sinh)

-         nguyện đọan chúng-sinh tà-kiến (nguyện dứt những ư-kiến tà-ác của chúng-sinh)

-         nguyện độ chúng-sinh khổ-luân (nguyện  đưa chúng-sinh ra khỏi ṿng luân-hồi khổ-năo)

Nếu chúng ta không lập nguyện và quyết-tâm thực-hiện lời nguyện , th́ khó ḷng mà ta có thể thành- công trong việc tu-tập của ḿnh.

Cuối cùng, là hạnh, sự thực-hành lời nguyện của chúng ta.

Trong Phật-giáo, ba yếu-tố nêu trên không thể tách rời nhau. Chúng phải là nội-dung tu-tập của bất cứ ai muốn tự cứu ḿnh cũng như giúp người khác t́m thấy an-vui.

Về chữ Tín, đó là nét tối-quan-trọng trong việc đưa con người vào chánh-đạo. Bồ-Tát chia ra làm mười thứ bậc, nhưng để được là Bồ-Tát bất-thối, nghĩa là không c̣n phải quay lại mức-độ của chúng-sinh, dựa hoàn toàn vào đức tin. Do đó mà có Thập-Tín, mười địa- vị đầu tiên trong năm mươi hai địa-vị của Bồ-Tát vậy. Và Tín cũng đứng đầu ngũ-căn và ngũ-lực, năm cái gốc và lực giúp người tu-hành phá mọi chướng-ngại và dần dần đến được quả vị Bồ-Đề ( Tín, Tấn, Niệm, Định, và Huệ.)

 

+++

 

 

(13)

FAITH & VOW & PRACTICE

+++

 

          Faith is the first condition for a Buddhist to move forward on the path to enlightenment. But this faith is not blind faith and superstition. It is deeply rooted in knowledge and understanding, and agrees completely with science. In the Buddha Praying Paramita Sutra, we see this paragraph about Faith: “First of all, you must believe in the Law of Cause and Effect, deeply, strongly and consistently, and never entertain a single thought or act that goes against the Law of Cause and Effect. You must see the wondrous workings of the Law of Cause and Effect that encompasses all the three times, namely, the Past, the Present, and the Future, as clearly as the criss-cross lines in your palm. Then, you must believe that all things are impermanent, human life is as short as a breath, all phenomena are without substance, continuously transforming, changing, appearing, disappearing, every flash of an instant eroding, all leading to suffering, ignorance and fettering.” We see clearly that the Buddhist concept of Faith is very different from the common concept that humankind holds.

          Vow is another very important characteristic of Buddhism. When Sakyamuni Buddha started on his path of self-cultivation, he made the four vows as follows:

                    - To help sentient beings out of calamities

                    - To take sentient beings out of ignorance

                    - To clear sentient beings from wrong views             

-  To help sentient beings out of the cycle of birth , death and rebirth.

 

If we do not make a vow and maintain a determination to follow through, we cannot achieve anything, and cannot make progress in self-cultivation.

Finally, we have to actually practice what we have made a vow to do.

These three elements are inseparable in Buddhism, and must be the content of behavior for anyone hoping to help himself and at the same time be able to help others.

Concerning faith, this is the prerequisite for a sentient being to reach the level of a bodhisattva, a being who has begun to see the light and will not relapse into lower levels. Faith stands first in the five roots and the five powers, the means to take one along the path of enlightenment. The four other components are effort, contemplation, concentration, and intelligence.

 

+++

 

   

(14)

A-LA-HÁN & BỒ-TÁT

 

          Phật-giáo có hai ḍng chính, là Tiểu-Thừa và Đại- Thừa. Kinh-điển thuộc Tiểu-Thừa Phật-giáo viết bằng tiếng Nam-Phạn, hay Pali, và được truyền xuống phía Nam để phổ biến rộng răi ở các nước như Tích-Lan, Miến-Điện, Thái-Lan, Nam-Dương, vv và cả ở Việt- Nam nữa. C̣n kinh-điển Đại-Thừa th́ viết bằng tiếng Bắc-Phạn hay Sanskrit, và truyền qua hướng Bắc đến  Trung-Hoa, Nhật-Bản, Cao-Ly và Việt-Nam. Do đó mà cũng có hai danh-từ để phân-biệt hai ḍng là Phật giáo Bắc-Tông và Phật giáo Nam-Tông.

            Lư do có sự phân-phái này là v́ kết-quả của cuộc kết-tập lời dạy của Phật lần thứ ba vào khoảng 500 năm sau khi Phật Thích-Ca nhập Niết-Bàn. Trong cuộc kết-tập này, có hai phái chính khác nhau về quan-điểm là Thượng-Tọa Bộ và Đại-Chúng Bộ. Lúc đó, thêm vào những kinh căn-bản từ trước, lại có rất nhiều kinh- điển mới, không thấy nói rơ xuất-phát từ đâu ra. Thượng-Tọa Bộ gồm các vị bô-lăo trong tăng-đoàn của Phật th́ chỉ công- nhận các kinh-điển đă có từ trước, c̣n các kinh-điển sau th́ cho là không phải chính lời Phật dạy. C̣n Đại- Chúng Bộ th́ gồm các vị tu-hành trẻ tuổi và cấp-tiến hơn, công-nhận những kinh-điển mới xuất-hiện vẫn là lời của Phật dạy, nhưng do bí-truyền nên những vị tu-hành cao-niên quá câu-chấp không thấy được.

            Cái khác nhau căn-bản nhất giữa hai trường-phái là ư niệm về A-La-Hán và Bồ-Tát. Theo Tiểu-Thừa, quả- vị cao nhất mà người tu-hành có thể đạt được là A-La- Hán quả. Khi đắc quả này, người tu-hành đă vượt qua bờ sinh-tử và không c̣n phải tái-sinh nữa. C̣n quả-vị Phật th́ chỉ có Phật Thích-Ca là người độc-nhất đạt đến mà thôi. Và Phật Thích-Ca cũng là vị Phật độc-nhất, không c̣n Phật nào khác. Tiểu-Thừa cũng công-nhận Phật Thích-Ca đă từng là Bồ Tát trong hằng hà sa số kiếp trước khi thành Phật ở kiếp này.

            Đại Thừa th́ lại cho rằng trong tam-thiên đại- thiên thế giới, có hằng hà sa số Phật và hằng hà sa số bồ-tát. Bồ-Tát, có nghĩa là “giác-hữu-t́nh”, là những chúng-sinh đă hiểu được lư giác-ngộ, và dù trong số đó có nhiều chúng-sinh có thể đắc đến quả A-La-Hán để không c̣n phải tái-sinh nữa, nhưng v́ ḷng thương      chúng-sinh rộng lớn, nên đă lập nguyện trở lại cơi Ta-bà, tức là thế giới của chúng ta, để giúp chúng-sinh đạt đạo như ḿnh.

            Bồ Tát tu theo sáu pháp ba-la-mật, hay lục-độ, nghĩa là sáu phương pháp thực hành giúp họ vượt bến mê đến bờ giác, đó là:

-           bố thí

-           tŕ giới

-           nhẫn nhục

-           tinh tấn

-           thiền định

-           trí huệ

Trong sáu pháp này, ta thấy có ba pháp không có trong bát chánh đạo, là bố thí, nhẫn nhục, và trí huệ.

 

 

(14)

ARAHANTS  &  BODHISATTVAS

+++

 

          There are two main schools of Buddhism, the Hinayana, and the Mahayana. The sacred books in the Hinayana school are in Pali, and the religion is practiced in Ceylon, Burma, Thailand, Laos, Cambodia, and Vietnam. The sacred books in the Mahayana school are in Sanskrit, then translated into Tibetan, Chinese, Japanese, Korean, and Vietnamese, and the religion is practiced in those countries.

            The reason for this division of Buddhism into two school can be seen in the second convention of the disciples of Sakyamuni Buddha about one hundred years after He entered Nirvana. In this convention, all the teachings of the Buddha were again amassed and written down in sutras. In this convention, in addition to the sutras that had been collected and written down from the first convention, there appeared many new books that the elder monks would not accept to be the Buddha's words. But a majority of the younger monks insisted that those were actually the words of the Buddha, but because of the secret way they were passed down, they could not be comprehended by the older, conservative generation of disciples. In these sutras, we begin to see the mention of the immeasurable elements of space and time, as well as the existence of innumerable buddhas and bodhisattvas.

            According to the Hinayana tradition, the highest level a practitioner can reach is that of an Arahant, who has ended the everlasting cycle of life and death, and will not be born into the world again. But there is only one Buddha who is the supreme, incomparable master.

            The Mahayana tradition, on the other hand, states that every sentient being will become a Buddha some day, though that day might be unbelievably long to come. And on the path of self-cultivation, many practitioners make a vow to come back to the world of living beings to help them progress along the path, even though they might have ended their life and death cycle due to their high level of achievements. These are bodhisattvas.

            A bodhisattva cultivates himself by practicing the six paramitas, or the six elements to help them reach their goals. They are:

                        - Giving

                        - Abstention

                        - Forbearance

                        - Effort

                        - Concentration

                        - Intelligence.

 

Of these, we have three qualities that are different from those in the eight-fold path. They are giving, forbearance, and intelligence. Forbearance is the power to take any kind of hardships and injustices without complaint or anger. The other two qualities will be mentioned in the coming notes.

 

 

 (15)

TỨ VÔ-LƯỢNG-TÂM

+++

 

          Như đă tŕnh-bày trong bài trước, bố-thí là hạnh đầu tiên trong sáu pháp giúp bồ-tát vượt bờ mê đến bến

giác. Bố-thí là cho mà không mong nhận lại. Có thể đó là thí tài, cho của cải vật chất, thí pháp, giảng giải lẽ nhiệm mầu của đạo, hay thí vô úy, cho sự không sợ sệt.

          Tiểu-Thừa v́ không công-nhận các kinh-điển Đại- Thừa là lời Phật dạy, nên không đề-cập nhiều đến việc bố-thí. Tuy nhiên trong Tiểu-Thừa, có nói tới Tứ Vô-Lượng-Tâm, và đây chính là biểu-hiện rất rơ-ràng của tâm bố-thí vậy.

Tứ Vô-Lượng-Tâm là bốn trạng-thái tâm-lư đem lại cho người thực hành nó vô-lượng công-đức, đó là Từ, Bi, Hỷ, và Xả.

          Từ có được là do có sự hiểu-biết về tính b́nh-đẳng giữa muôn loài. Chúng ta coi người khác như chúng ta, và dù rằng trông bề ngoài, có vẻ họ khác chúng ta, nhưng mọi chúng-sinh đều có Phật-tính, nghĩa là khả-năng giác-ngộ như Phật, dù thời-gian cần-thiết để tu-tập tùy thuộc vào căn-cơ của mỗi người. Do đó, mọi chúng-sinh cùng đều là quyến-thuộc của nhau.

Bi là trạng-thái tâm-lư có được khi ta thấy rằng mọi chúng-sinh đều khổ-đau, và cần đến sự giúp-đỡ để khắc-phục khổ-đau. Trong một thế-giới mà cái sợ c̣n là một t́nh-trạng phổ-biến, ḷng bi đem đến sự an-ủi vỗ-về rất quư giá cho những người đang cần sự trợ-giúp về vật-chất cũng như tinh-thần.

Hỷ là sự chia-sẻ niềm vui với người khác. Bề ngoài, điều này có vẻ như thật dễ-dàng, nhưng trong thực-tế lại rất khó, v́ con người thường hay ghen-tuông đố-kỵ, và khó ḷng thật-t́nh chia-sẻ niềm vui của người khác. Nói chung, ai mà c̣n đau-khổ th́ khó ḷng mà chia-sẻ niềm vui với người khác cho được.

Xả là khả-năng bỏ qua những cái xấu của người khác, hoàn-toàn không bị sân-hận, ghét bỏ, hay ư nghĩ trả thù chi-phối. Xả c̣n có nghĩa là không chấp-trước, không bị ràng buộc bởi những tín-điều do tà-kiến tạo ra.

Bốn trạng-thái tâm-linh này, khi được thực-hành trong tinh-thần vô-vị-lợi, sẽ chắc chắn đem lại sự sung- sướng vô-lượng đến cho người thực-hành chúng. Và điều này chỉ có thể thực-hiện nếu ta thật sự nắm vững ư-niệm về vô-ngă. Nhờ đó, chúng ta không cảm thấy bị tổn-thương nếu bị người khác mắng chửi. Chúng ta thực ḷng quan-tâm đến sự yên vui của người khác. Chúng ta trao đến cho người khác cái mà họ cần nhất đúng thời, đúng chỗ.

Bồ-tát lấy hạnh bố-thí làm đầu, tất nhiên luôn luôn thực-hành tứ vô-lượng-tâm đối với chúng-sinh. Có điều khác với chúng-sinh, làm việc thiện để cầu phước, bồ-tát làm việc lành v́ bổn-nguyện đối với đời mà không mang một tâm mong-cầu lợi riêng, do đó hoàn- toàn không tạo ra nghiệp mới do những việc lành của ḿnh. Đó là v́ các ngài đă thật-sựï xả được tâm chấp-trước thường thấy nơi chúng-sinh, chỉ hướng tới cái lợi của bản-thân ḿnh mà thôi.

 

 

(15)

THE FOUR IMMEASURABLE PSYCHES

+++

 

          As mentioned in the last note, giving is the most valued quality that a human being can possess, and stands first in the six qualities of a bodhisattva. Giving can be in one of three forms, the giving of material things, the giving of wisdom, and the giving of a state of mind where no fear is left.

This giving quality manifests itself most clearly in the four psychical states, namely Friendliness, Compassion, Empathy, and Forgiveness.

          Friendliness comes from the knowledge that there is no difference between sentient beings, and there is no distinction necessary. We consider our fellows as equals, and even though on the face of things, they might be different from ourselves, in the end, everyone will become a Buddha, though the time spent on self-cultivation before reaching that end might be different for each individual. Another manifestation of Friendliness is the democratic civil behavior “Treat others as you wish to treat yourself”.

Compassion comes from the realization that all sentient beings suffer, and need help from others to overcome suffering. In a world where fear is still so ubiquitous, compassion brings immeasurable consolation and comfort to all those in need, materially as well as spiritually.

Empathy is the sharing of joy when another is happy. This seems an easy thing to do, but in reality, it is extremely difficult. Human beings are still driven by jealousy, and no one who suffers wants to see another experience a joy that is denied him or her.

Forgiveness is the capacity to let go of all the bad things that others do to oneself, to be free from anger, hate, or any thought of revenge.

These four psychical states, when practiced selflessly, will surely bring immeasurable happiness to the practitioner. And they can only come from a true mastery of the no-self concept. Owing to it, we don't feel hurt by the insults hurled at us by others. We are truly and genuinely concerned with the well-being of others. We truly give others what is most precious and most valued at the right time, in the right place.

A bodhisattva does all the good things to other sentient beings without a thought of self-interest. He does not do it so he can have a better next life. In other words, he does not cause new karma. He simply does it because of his vow to help others.

 

+++

 

 

(16)

TÍNH & TÂM & TƯỚNG

+++

 

Đạo Phật là đạo dạy con người không chấp-trước, v́ c̣n chấp-trước là c̣n tranh nhau hơn kém, đúng sai, phải trái, đưa đến bất-ḥa và chiến-tranh. Do đó, người Phật-tử không đặt nặng việc phê-b́nh chỉ-trích người khác, nhưng sẵn ḷng thấy cái hay của người khác, dù người đó có tạm tin theo những tín-điều khác cũng không sao. Miễn là xét theo lư, những việc họ làm là lợi cho ḿnh, cho người, th́ đó mới là điều quan-trọng, như nội-dung đoạn chép lại Kinh Kalama đă nêu ở bài 9.

Ta đă thấy trong truyền-thống phương Tây, Thiên- Chúa-giáo đóng vai tṛ vô-cùng quan-trọng, đă giúp đưa nhân-loại đến sự tiến-bộ hiện nay. Những việc làm từ-thiện của các ḍng đạo Thiên-Chúa-giáo tại khắp nơi là xuất phát từ ư-niệm bác-ái vị-tha rộng lớn mà những nhà tu-hành như các bà sơ đă thực-hiện để giúp nhân quần, nhất là những người kém may-mắn. Triết-gia Max Weber cũng nêu lên sự tiến-bộ trong xă-hội phương Tây với sự phát-triển của chủ-nghĩa tư-bản ở Aâu châu là do ảnh-hưởng của tín-điều Tin Lành đặt lư-tưởng vào sự phục-vụ nhân-quần. Những nhà tư-bản thời nay như Bill Gates, Warren Buffett, Ted Turner, David Packard, vv… đă làm bao nhiêu việc từ-thiện đáng cho chúng ta biểu-dương.

Mặt khác, người tín-đồ Thiên-Chúa-giáo rất tin- tưởng vào Đức Mẹ Maria, cũng y như người Phật-tử tin-tưởng vào Phật Bà Quan-Aâm vậy. Như thế th́ có ǵ khác nhau giữa hai tôn giáo đâu?

Nếu xét kỹ, ta sẽ thấy có sự giống nhau, nhưng cũng lại có sự khác nhau. Giống nhau ở phần Tính, và khác nhau ở phần Tướng.

Về Tính, th́ mọi chúng-sinh đều bằng nhau ở chỗ đều có Phật-tính, nghĩa là khả-năng giác-ngộ, thoát khỏi sự ràng-buộc của sinh-tử. Khác nhau ở chỗ tạm thời, mỗi chúng-sinh ở những thời-điểm sai biệt trên con đường tu đạo.

Như thế, cái khác nhau giữa Phật-Bà Quan-Âm và Đức Mẹ Maria là ở h́nh-tượng phát-lộ ra bên ngoài, nằm trong ư-niệm phân-biệt của chúng-sinh mà thôi. Nhưng đứng trên phương-diện ư-niệm triết-học cứu cánh, cả hai đều cùng thuộc nguyên-lư cứu-độ người hoạn nạn cả.

Cũng như những hành-động vị-tha của các nhà tư-bản thời nay, đều nằm trong tâm bố-thí mà Phật-giáo xiển-dương, coi như pháp đầu tiên đưa bồ-tát tiến bước trên con đường giác-ngộ. Như vậy, tuy có thể chưa từng có dịp t́m hiểu về Phật-giáo, những người đó vô h́nh chung chính là đang thực-hành pháp bố-thí của Bồ-Tát- đạo vậy. Từ Phật-tính tiềm-tàng trong họ, họ đă phát Bồ-Đề-tâm đem đến lợi-lạc cho chúng-sinh trên cơi thế vậy.

Trong Kinh Ưu-Bà-Tắc Giới, có đoạn sau đây:  “Có những chúng sinh tu theo ngoại-đạo, v́ không thích những lư-thuyết điên-đảo trong sách vở của ngoại-đạo, nên phát tâm-Bồ-Đề Đây chính là điều áp-dụng đối với các trường-hợp nêu ra trong bài này vậy.

 

+++

 

(16)

NATURE & PSYCHE & MANIFESTATION

+++

 

          Sakyamuni Buddha teaches sentient beings to let go of all preconceptions and prejudices, because these will surely lead to discord and war. A Buddhist does not try to find faults in others, but readily accepts the good things others do, even though these people might have different faiths. The most important criterion for judgment is whether upon observation and analysis, the things people do agree with reason and bring benefit to one and all, as has been said in the Kalama Sutra.

          We see clearly that Christianity has played a vital role in the development of Western civilization, and has contributed greatly to the world as we see it today. The ideas of charity, mercy, love, friendship, etc “are no different from the concepts of friendliness and compassion in Buddhism. The missionaries have done a great many good things to the suffering people in the world, building dispensaries, clinics, hospitals, schools, etc”

          By the same token, the rise of Protestantism in Europe has brought about the rise of capitalism, based on the concept of service to the community that is highly valued in the new creeds, as the German philosopher Max Weber has pointed out. And now, the great philanthropists of the modern world, people like Bill Gates, Ted Turner, David Packard, etc have contributed so much to the betterment of humankind.

          Regarding faith, you might ask, what is really the difference between belief in Mother Maria and belief in Quan Yin? Isn't that the same thing?

          Well, in one sense, it is the same thing, but in another sense, it is different.

          When we talk about the principle of rescue, both are the same. But the manifestations are different, just as in iconography, the image of God might be a black-skinned man in Africa, and a yellow-skinned man in Asia.

          The same goes for the acts of altruism that numerous people of different faiths around the world show. The principle is still giving, a basic concept in Buddhism, and it doesn't matter if the philanthropist is a Christian or a Buddhist. Unconsciously, he has done what Buddhism praises, and in spirit, he is already a Buddhist.

          In the Upasaka Sutra, there is the following sentence: “There are sentient beings who follow other faiths, but do not like the fallacious theories contained in the sacred books, and thus develops the Bodhi psyche” This applies to the cases as mentioned in this note.

 

+++

 

   

(17)

TRÍ-HUỆ

+++

 

            Như đă đề-cập đến trong bài 14, pháp cuối cùng trong lục-độ của bồ-tát là trí-huệ. Đây là điều vô-cùng quan-trọng khiến Phật-giáo khác Ba-La-Môn-giáo. Trong tôn-giáo này, người tu có thể đạt đến một tŕnh-độ thiền-định rất cao, nhưng vẫn c̣n bị ràng-buộc vào ṿng luân-hồi v́ chưa đạt đến trí-huệ siêu-đẳng. Do đó, trong Bà-La-Môn-giáo, không đề-cập đầy-đủ đến tất cả các pháp trong Phật giáo như nhân-quả, duyên, khổ, không, vô-thường, vô- ngă, và Niết-Bàn.

            Phật dạy rằng muốn đạt quả bồ-đề là quả vị cao nhất, phải chuyển thức thành trí, nghĩa là từ cảm-nhận chủ-quan đến sự thấu-hiểu các nguyên-lư khách-quan. Trong trí-huệ của Phật, có bốn loại như sau:

                        Diệu-quan-sát trí

                        B́nh-đẳng-tánh trí

                        Thành-sở-tác trí

                        Đại-viên-cảnh trí.

            Diệu-quan-sát trí là khả-năng nh́n thấu sự vật như chúng quả thực là như vậy. Với khả-năng này, Phật có thể nh́n thấu suốt ba cơi, có các thần-thông như thiên-nhăn-thông, thiên-nhĩ-thông, túc-mạng-thông, tha-tâm-thông, thần-túc-thông, và lậu-tận-thông.

            Thiên-nhăn-thông là thấy suốt mọi vật trong vũ-trụ. Thiên-nhĩ-thông là nghe thấu mọi vật trong vũ-trụ. Túc-mạng-thông là biết chuyện đời quá-khứ cũng như đời vị-lai. Tha-tâm-thông là biết được người khác đang nghĩ ǵ. Thần-túc-thông là có thể đi khắp nơi theo ư ḿnh muốn. Lậu-tận-thông là sự trong sạch hoàn toàn, không c̣n chấp-trước vào pháp cũng như ngă nữa.         B́nh-đẳng-tánh trí là sự nhận-biết rơ-ràng mọi chúng-sinh đều bằng nhau, v́ đều có Phật-tính, và cuối cùng cũng đều thành Phật. Thành-sở-tác trí là do có hai trí trên, mọi hành-động, lời nói, ư nghĩ đều đúng thời đúng lúc. Và đại-viên-cảnh trí gồm cả ba trí trên, thấy rơ mọi pháp trong tam-thiên đại-thiên thế-giới như phản-chiếu trong một tấm gương tṛn đầy.

            Sự hiểu-biết của Phật sâu-xa huyền-nhiệm đến mức-độ Phật đă nh́n thấy vô-số các loài vi-trùng và siêu vi-trùng hiện-diện trong ngay một ly nước uống, nên trước khi uống nước Phật dạy các đệ tử phải đọc chú để cho linh-hồn các chúng-sinh đó được siêu-thoát. Cách đây hai ngh́n năm trăm năm, khi loài người c̣n sống trong mông-muội, th́ sự hiểu-biết của Phật thật-sự là siêu-phàm, do huệ-nhăn của Phật vi-diệu đến mức không thể nghĩ bàn, đạt được do thiền-định và quán-sát chứ không phải do suy-luận xuông hoặc đề ra giả-thuyết bâng-quơ vô-căn-cứ. Đối với huệ-nhăn của Ngài, nhân gồm biển quả, quả suốt nguồn nhân, tương-quan nhân-quả cứ trùng-trùng điệp-điệp như thế, nên trong pháp-giới Ngài giảng dạy, có lư pháp-giới, sự pháp-giới, lư-sự vô-ngại pháp-giới, và sự-sự vô-ngại pháp-giới, mọi lư, mọi sự đều dung-thông, không có ǵ ngăn ngại cả. Đó là cái lư trùng-trùng duyên-khởi, hay vô-tận duyên-khởi trong Kinh Hoa-Nghiêm vậy.

+++

 

(17)

INTELLIGENCE

+++

 

            As mentioned in the previous notes, intelligence is the last of the means that take a bodhisattva across the sea of ignorance to reach the shore of enlightenment. This is what distinguishes Buddhism from Brahmanism, a religion that was very similar to Buddhism, but was nevertheless a completely different creed. A brahman can attain a very high level of concentration, and can reach very high realms. But a brahman is still bound by the cycle of birth and rebirth. And in Brahmanism, concepts have not reached the ultimate level as in Buddhism.

            Sakyamuni Buddha teaches that in order to reach the highest level of cultivation, a practitioner must transform consciousness into intelligence. That is, subjective perceptions must be transformed into objective knowledge. There are four kinds of intelligence as follows:

                        The Intelligence of Miraculous Observation

                        The Intelligence of Egalitarian Nature

                        The Intelligence of Perfect Conduct

The Intelligence of the Perfect Mirror.

            The Intelligence of Miraculous Observation means the power to see things as they really are. With this power, Sakyamuni Buddha has seen through space and time, and possesses the six powers as follows:

            The power to see everything everywhere.

            The power to hear everything everywhere.

The power to know the thoughts of others.

            The power to know past and future lives.

            The power to move about as he wishes.

            The power to be cleansed of all impurities.

            The Intelligence of Egalitarian Nature makes Sakyamuni Buddha see that all sentient beings have Buddha nature, and will eventually become buddhas.

            The Intelligence of Perfect Conduct means owing to the first two kinds of intelligence, Sakyamuni Buddha speaks and acts in the right manner all the time.

            The Intelligence of the Perfect Mirror means owing to the first three kinds, Sakyamuni Buddha sees the whole mega-universe as if it were reflected in a perfect mirror.

            The story goes that once, Sakyamuni Buddha urged His disciples to say a mantra before drinking  water in a cup because he said that there were countless sentient beings in that cup, and to deliver those sentient beings from suffering, a mantra was recited. Nowadays, we know that there are the countless microbes and viruses swarming in a cup of water. But to be able to see this more than two thousand five hundred years ago, when humanity was still in a very primitive stage of development, we can only say a knowledge like that is nothing less than miraculous. And Sakyamuni Buddha attained that knowledge purely on the strength of His concentration and contemplation, and not on account of idle mental ramblings.

+++

 

 

(18)

PHÁP & PHÁP MÔN & PHÁP GIỚI

+++

 

Chữ “pháp” là một chữ có nghĩa rất rộng trong đạo Phật.

 

Đầu tiên, pháp có nghĩa là tất cả những định-luật thiên-nhiên hằng-hữu, dù có Phật hay không. Dựa theo những nguyên-lư này mà vũ-trụ vận-hành, từ sự ra đời và biến mất của các dải ngân-hà cho tới những diễn tiến trong đời sống sinh-vật. Ta có thể kể ra luật vạn-vật hấp-dẫn, luật nhân-quả, luật tương-quan tương-hệ, vv

Khi Phật Thích-Ca thị-hiện trên thế-gian và chứng quả bồ đề, Ngài nh́n thấy những định-luật này và giảng giải cho chúng-sinh để giúp họ giải-thoát khỏi khổ đau.. Ngoài thế-gian pháp, Ngài c̣n nói về các pháp xuất-thế-gian, không thể hiểu được nếu ta dựa vào hiện-tượng-giới. Những pháp này không phải cho tất cả mọi người.

V́ trí-huệ siêu-phàm của Ngài, Phật chỉ cho chúng-sinh nhiều cửa ngơ để đi đến giải-thoát, v́ tŕnh-độ chúng-sinh không đều nhau. Đó gọi là những pháp-môn để đi đến cùng một mục-tiêu. Hai pháp-môn chính là Thiền và Tịnh. Trong Thiền, th́ phải dùng sức của tự-thân từng người. Trong Tịnh, hành-giả nhờ đến sức tiếp-dẫn của Phật A-Di-Đà th́ mới có thể siêu-sinh.

Pháp-Giới là bốn phạm-trù của Pháp. Đó là Lư Pháp-Giới, Sự Pháp-Giới, Lư-Sự Vô-Ngại Pháp-Giới, và Sự-Sự Vô-Ngại Pháp-Giới.

          Lư Pháp-Giới thuộc về lănh-vực những ư-niệm phản-ánh hiện-thực.

          Sự Pháp-Giới là lănh-vực ở đó ta thấy tất cả hiện-tượng-giới.

Lư-Sự Vô-Ngại Pháp-Giới là địa-hạt giải-thích những sự việc xảy ra căn cứ trên lư, nghĩa là mọi sự trong vu- trụ xảy ra đều có lư do, chứ không phải tùy tiện, t́nh cờ.

Sự-Sự Vô-Ngại Pháp-Giới là địa-hạt giải-thích do có Lư-Sự Vô-Ngại Pháp-Giới mà mọi việc xảy ra đều viên-thông với nhau, không có ǵ mâu-thuẫn, ngăn ngại giữa sự việc này và sự việc khác. Mọi việc ḥa-nhập với nhau một cách kỳ-diệu, không thể khác đi được.

          Phật Thích-Ca thấy rơ là nhân gồm biển quả, quả suốt nguồn nhân. Toàn-bộ diễn-biến là sự dàn trải kỳ-diệu những tương-hệ, như những lớp sóng của đại-dương. Điều này được giải-thích trong Kinh Hoa-Nghiêm, một cuốn kinh đi sâu vào vũ-trụ-quan của Phật Giáo.

         

+++

   

(18)

DHARMA & DHARMA DOORS & DHARMA REALMS

+++

 

The term “dharma” is a very encompassing one in Buddhism.

         

First of all, dharma means all the laws of nature that exist whether there is a Buddha or not. Based on this dharma, the whole world of phenomena operates, from the birth and death of galaxies to the events in biological life. We can cite the law of attraction, the law of cause and effect, the law of inter-dependencies, etc…

          When Sakyamuni Buddha came to this world of ours and finally attained enlightenment, He saw these universal laws and explained them to other sentient beings and helped them escape suffering. In His teachings, in addition to worldly dharmas, He also talked about other-worldly dharmas, not to be comprehended in terms of phenomena. These are not for everyone.

          Due to His supreme knowledge, Sakyamuni Buddha showed many ways to reach enlightenment for different beings, for He knows they are different from one another. Therefore, He showed various dharma doors to reach the goal for various people. The two main doors are Zen and Pure Land. In Zen, the efforts are from within the individual. In Pure Land, the practitioner needs the help of Amitabha Buddha to be able to be delivered.

          The Dharma Realms are the four categories of dharma. They are the Realm of Reason, the Realm of Phenomena, the Realm of Reason Merging with Phenomena, and the Realm of Phenomena Merging with Phenomena.

          The Realm of Reason is the realm of concepts reflecting reality.

          The Realm of Phenomena is the realm where events unfold.

          The Realm of Reason Merging with Phenomena is the realm where the phenomena are explained by force of reason, so things happen not in a haphazard way, but according to logic.

          The Realm of Phenomena Merging with Phenomena is the realm where all things and events do not contradict one another, and everything is beautifully coordinated and orchestrated as though it can never be otherwise.

          Sakyamuni sees that the seeds encompass the sea of the fruits, and the fruits go all the way back to the source of the seeds. The whole process is a miraculous unfolding of interconnections that are limitless, like the waves of the ocean. That is the concept explained in the Flower Adornment Sutra.

 

+++

   

 

(19)

Ư-NIỆM VÔ-BIÊN

+++

 

         

Một trong những ư-niệm nhiệm-mầu nhất mà Phật Thích-Ca đă t́m ra do huệ-nhăn của Ngài là ư-niệm vô-biên. Trong khi các bậc đạo-sư ngoại-đạo chỉ đạt đến mức-độ tu-tập cao nhất là thấy quá-khứ, và thấy một vũ-trụ độc nhất, th́ Phật Thích-Ca, trong 49 ngày ngồi đại-định dưới cội Bồ- Đề, đă vượt qua vũ-trụ hiện-tiền để đi tới vô vàn vũ-trụ khác, cũng như nh́n thấu suốt cả tương-lai.

 

Trong các kinh-điển ghi lại lời dạy của Ngài trong truyền-thống Đại-Thừa, luôn luôn thấy nhắc tới số kiếp nhiều như cát sông Hằng, số quốc độ nhiều như cát sông Hằng, và đến Phật, số Phật cũng nhiều như cát sông Hằng.

 

Thoạt nghe, ta tưởng đây là chuyện mơ-hồ khó tin. Nhưng nếu suy-nghĩ cho kỹ, th́ không thể quan- niệm một cái ǵ khác hơn thế cả. Ta có thật chắc-chắn là vũ-trụ chỉ có một hay không? Nếu quả như thế, th́ ngoài vũ-trụ là cái ǵ? Khoảng hư-không chăng? Nhưng hư-không cũng vẫn là không-gian kia mà! Tại sao ta không thể quan-niệm được rằng cũng có hằng hà sa số vũ-trụ, và mỗi vũ-trụ cũng thở ra hít vô như chính chúng ta thở ra hít vô vậy? Khoa-học xác-định vũ-trụ của chúng ta đang nở ra. Tại sao ta không thể nhận rằng sẽ có lúc, vũ-trụ sẽ co lại, và đến một thời-điểm nào đó, vũ-trụ cũng thở hắt ra và sẽ tan-biến, không c̣n hiện- diện nữa, đúng như luật vô-thường đă cho thấy?

 

Tuy nhiên, vẫn có cái không hề thay đổi. Đó là thiên-nhiên, là những định-luật thiên-nhiên, đang vận-hành trái đất chúng ta cũng như toàn-thể siêu-vũ-trụ. Phật Thích-Ca đă dạy rằng chánh-pháp do Ngài tuyên-giảng, dù nhiệm-mầu là thế, cũng sẽ có lúc tiêu đi. Nhưng Niết-Bàn th́ thường-trụ, đó là nguyên-lư tự-do và giác-ngộ. Và nó hiện-diện khắp nơi. Mỗi chúng-sinh đều có Phật-tính, và sẽ trở thành Phật trong tương-lai. Đó là lư-do tại sao, dù chỉ trong một khoảnh-khắc vô-cùng ngắn ngủi trong cuộc đời, chúng ta cũng có thể thể-nghiệm cảm-giác thanh-tịnh an-lạc như đang ở Niết-Bàn vậy. Niết-Bàn không ở đâu xa, mà ở ngay trên cơi thế, ngay trong tâm mỗi người. Đó là Tâm Chân-Như, thanh-tịnh, an-b́nh, tự-tại, chứ không phải tâm phan-duyên, chạy theo trần-cảnh bên ngoài. Tuy vậy, hai tâm đó không tách rời nhau. Khi mê, th́ là chúng-sinh. Khi ngộ, th́ là Phật. Đó là nội-dung của Pháp-Môn Không-Hai, cánh cửa nhiệm-mầu đi vào cơi thường-trụ, Biển Chân-Như của mọi cơi, mọi loài.

 

+++

 

 

(19)

THE CONCEPT OF LIMITLESSNESS

+++

 

            One of the great discoveries of Sakyamuni Buddha is the concept of limitless time and limitless space. Sakyamuni Buddha often mentions in his teachings that the number of lifetimes is as many as the number of grains of sand in the Ganges river, and the number of realms is as many as the number of grains of sand in the Ganges river. In addition, in the sutras of Mahayana Buddhism, there is often mention that the number of Buddhas in limitless space and limitless time is as many as the number of grains of sand in the Ganges river. This is the kind of clairvoyance that still seems far-fetched for modern science at the present stage of development. And yet logically, how can it be any other than just that? Are we positively sure that the universe we see is the only universe in space? If it is so, then what is there outside of it? The void? But the void is space just the same. Why can't we conceive of innumerable universes, each having a beginning and an end, each breathing the way a human being breathes? Current scientific knowledge indicates scientists that our universe is expanding. Why can't it be that at one particular point in time, our universe will stop expanding and start contracting? And in the end, it will sneeze and break loose, the way a human being expires and dies? Isn't that in complete agreement with the law of formation and deconstruction of everything, in accordance with impermanence and change?

It is very interesting to note here that in quantum mechanics, there is this concept of a multiverse, a multiplicity of universes, and the ekpyrotic theory of the universe also states that there is more to the part of the universe as we know it now. Both these cutting edge vanguards of modern science seem to agree with what Sakyamuni Buddha had taught in his sutras more than two thousand five hundred years ago.

And yet there is still something that doesn't change at all. It is Nature, the natural law. It is what makes the world go round, what operates and controls the mega-cosmos. Sakyamuni Buddha has said that His teachings, wise as they truly are, will one day be lost. But Nirvana is always there. It is the ultimate state of freedom and enlightenment. And it is everywhere. Each of us has Buddha nature, and will someday become a Buddha. And that is why at some particular time, however fleeting, each of us might feel as though we were in Nirvana. Nirvana is not necessarily somewhere else, but can be right here on earth, and is within ourselves. It is the psyche that is not pulled along by outside events and phenomena, but that is self-sufficient, pure, serene, and blissful. So in psyche, there are two kinds, the pure one and the impure one, and yet they are melted together in the Sea of Bodhi. When you are foolish, you are a sentient being. When you are enlightened and awake, you are a Buddha.

 

+++

 

 (20)

BIỂN-CHÂN-NHƯ

+++

 

Ư-niệm vi-diệu nhất trong Phật-pháp là Chân- Như. Những chữ đồng thể với chân như là Tự tánh thanh tịnh, Phật tánh, Pháp thân, Như lai tạng, Thật tướng, Pháp giới, Pháp tánh, Viên thành thật tánh, và Pháp vị.

Như trong bài nói về Sắc và Không, sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc, sắc tức là không, không tức là sắc, thọ tưởng hành thức cũng là như thế. Khi mọi pháp đều là vô-thường, th́ tất cả mọi thứ chỉ là như-như mà thôi, làm sao ta có thể xác-định hoàn toàn để nói rằng nó đúng thật là thế? Chỉ có thể như thế mà thôi. Chỉ có như thế mới là chân thật, là không bao giờ thay đổi. Khi hiểu như thế, ta không c̣n bám víu vào bốn ư niệm sai lạc, đó là CÓ, KHÔNG, KHÔNG CÓ, và KHÔNG KHÔNG. Đó là ly tứ cú, tuyệt bách phi. Ta sẽ thấy mọi sự, mọi pháp đều như có như không, uyển chuyển, sinh động, không c̣n cứng nhắc, sai lạc nữa.

Hăy tạm lấy một thí dụ trong lănh vực tâm như sau. Một đối tượng mà ta nghĩ tới, giả dụ vợ ta, hay con ta. Khi họ hiện trong tâm của ta, th́ đó là có. Khi họ không hiện ra trong tâm ta, th́ đó là không. Có không, không có vô-cùng, lúc có lúc không, nào có bao giờ dứt-khoát là có hay không?

Lại nữa, một người bạn mới qua đời. Anh ta c̣n hay mất trong ta? Tuy thân xác anh ta không c̣n nơi trần thế, nhưng khi anh ta hiện lên trong ư nghĩ của ta, th́ đó là có hay không? Shakespeare, Nguyễn Du, Victor Hugo đâu c̣n sống trong đời này nữa, nhưng họ có thật mất không, khi những câu thơ, những kịch-bản, những tác phẩm của họ vẫn được người đời nhắc nhở tới, ngâm vịnh, đưa lên sân khấu?

Như vậy rơ ràng trong không đă có có, và trong có đă là mầm-mống của không rồi. Có cái ǵ nhất quyết là thế này hay thế khác đâu?

Phật-tánh trong ta cũng vậy. Ta có Phật-tánh đó chứ, nhưng Phật-tánh có hiển-hiện trong ta cho ta nh́n thấy đâu? Chỉ có Phật nh́n ra và chỉ dạy cho chúng ta, để chúng ta thấy là một lúc nào đó trong hằng hà sa số kiếp về sau, ta cũng sẽ giác-ngộ như Phật để thoát khỏi ṿng sinh-tử trầm-luân và về với cái hằng-cửu của thiên-nhiên, của các định-luật thiên-nhiên là Niết-Bàn mà thôi.

Biển-Chân-Như, hay Bồ-Đề-Hải, là khoảng không- gian mông-mênh bát-ngát bao gồm tam-thiên đại-thiên thế-giới, trong đó mọi vật, mọi loài đều cùng chung một tính chất với Phật, ở đó không c̣n xao-động, oán-cừu, điên-đảo, u-mê, chấp-trước, mà tất cả chỉ c̣n là cái thanh-tịnh diệu-kỳ của Chân-Không, Diệu-Hữu mà thôi. Khi không th́ không thấy ǵ, nhưng khi có th́ là cả một trời mầu nhiệm vi-diệu không thể nghĩ bàn.

 

+++

 

(20)

 

THE SEA OF TRUE LIKENESS

+++

 

The most miraculous concept in Buddhism is THE SEA OF LIKENESS, or THE BODHI SEA.

There is nothing like an absolute truth. Everything is seen as they really are, which is fuzzy. In recent times, fuzzy logic has become a science in vogue. That proves what Sakyamuni Buddha has seen more than two thousand five hundred years ago. His understanding of the physical world is still so far advanced that modern science is still groping in the dark for the things that He has already mentioned in His sutras.

But Sakyamuni Buddha is mainly concerned with the world of the psyche, and wants to help sentient beings get out of the chain of suffering. He points out how in the world of phenomena, nothing stands still, everything changes, and if you stick to your own preconceptions and prejudices, you only cause miseries all around you.

Better yet, Sakyamuni Buddha shows sentient beings the things that surpass this phenomenal realm and reach the other-worldly realm of pure bliss and peace.

The Sea of Likeness, or the Bodhi Sea, is where everything merges, everything finds a place of its own, and everything coexists in a miraculous state of understanding and harmony. It is where everything is explained, everything is light and lucidity, and when things don't manifest themselves, it is pure stillness, but when things manifest themselves, they appear in miraculous existence.

+++

 

 

TẠM KẾT

+++

 

Đây là một tài-liệu rất ngắn gọn, có lẽ quá cô đọng, và cũng quá thiếu sót, khi đề tài bàn thảo lại là một cái ǵ vi-diệu nhiệm-mầu như triết-học Phật-giáo. Người viết chỉ hy-vọng nó giúp cho người đọc có một ư-niệm nào đó, dù có thể rất sơ-sài và mờ nhạt, về cái phong-phú và đa dạng của Phật-pháp. Dù sao đi nữa, nội-dung cuốn sách này cũng chỉ là gói gọn trong sự hiểu-biết nông cạn của một cá-nhân nhỏ bé tầm-thường về một tôn-giáo có khả-năng dẫn-dắt toàn thế- giới vào một kỷ-nguyên mới, kỷ-nguyên của ḥa-b́nh, an-lạc, hạnh-phúc cho tất cả mọi người.

Rất có thể c̣n nhiều điểm gây thắc mắc và tranh căi trong tập tài-liệu này. Nếu có, th́ lư do chỉ v́ tŕnh-độ hiểu-biết c̣n giới-hạn của người viết, chứ hoàn-toàn không phải v́ Phật-pháp không đúng. Người viết hy-vọng tài-liệu này sẽ là lời mời gọi người đọc tự t́m hiểu lấy cho ḿnh, và đến được những lời giải-đáp cho những câu hỏi của riêng ḿnh.

Người viết xin rất sẵn ḷng thảo-luận về bất cứ điểm nào được nêu lên trong tài-liệu này, và sẽ sẵn-sàng

sửa lại những sai-lầm, cũng như bổ-túc những thiếu-sót khi được sự góp ư của độc-giả.

          Xin được nhắc lại, Phật đặt quyền tự do hoàn toàn nằm trong mỗi con người để tự cứu ḿnh khỏi bể khổ do hiểu biết sai lầm, và không hề bắt buộc ai làm bất cứ điều ǵ mà không suy nghĩ và chiêm nghiệm từ những nếm trải của bản thân. Phật không coi con người là những con cừu cần phải được chăn dắt. Phật chỉ nêu ra cho chúng ta thấy là v́ bị những chướng ngại do dục vọng dẫn dắt, mà ta đă bị che lấp, không cảm nhận được hào-quang của giác-ngộ, nên cứ măi phải trôi lăn trong ṿng sinh-tử luân-hồi đầy đau-khổ muộn-phiền mà thôi.

          Đạo Phật là đạo từ-bi. Phật là bậc Đại-Y-Vương thấy rơ căn bệnh trầm-kha của chúng-sinh là bệnh khổ, do đó kê đơn thuốc cho chúng ta dùng để trị tuyệt căn bệnh quái ác đó. Tin hay không, muốn nghe theo thầy thuốc hay không là hoàn toàn do ư bệnh-nhân. Phật không ép uổng ai, không đ̣i hỏi bất cứ ai phải từ bỏ những suy-nghĩ và tin-tưởng của ḿnh trước khi chữa bệnh. Nếu bạn chưa sửa soạn đến với đạo Phật do một nhu-cầu về tín ngưỡng, th́ bạn cũng vẫn có thể đến với Phật Thích-Ca như một trong những vị thầy tư-tưởng và khoa-học tôn-quí của nhân-loại: Khổng-tử, Lăo-tử, Socrates, Plato, Aristotle, Spinoza, Kant, Nietzsche, Hegel, Mill, Freud, Jung, Einstein, Planck, Bohr, Heisenberg, vv… Chắc chắn bạn sẽ học được nhiều điều kỳ-diệu, vô-cùng ích lợi cho bản-thân. Từ đó mà bạn có nảy ra niềm tin hay không để đến được những bến bờ vi-diệu mới là hoàn-toàn do bạn định-đoạt.

Cuối cùng, người viết xin chân-thành cám-ơn quư độc-giả đă vui ḷng thực-hiện với người viết một cuộc song-thoại vô-cùng quan-trọng cho viễn-tượng tốt đẹp của nhân-quần trong những tháng năm sắp tới.

 

+++

 

 

EPILOGUE

+++

 

This is a very short document. But the writer hopes that it does help the reader in a small way to have a grasp, however vague and incomplete, of the complexities and the extremely wide spheres of knowledge that Buddhism touches on. And of course this is only one person's grasp of the content of a true, wondrous religion that can usher in a great era of peace, harmony and happiness for all humankind.

Due to the writer's limited capacity, many of the points elaborated here might very well be erroneous. But surely anything that is wrong is not the Dharma. The writer hopes this modest document is an invitation for the reader to go deeper into the study and find out the answer to any of his questions for himself.

The writer would readily talk about anything he touches upon in this document, and would gladly correct any mistakes and improve on any shortcomings as they are brought to his attention.

Finally, he earnestly thanks the reader for having given him a chance to carry out a dialogue that he feels is extremely important if we are to work together in building a world of joy for humankind within this millennium.

 

+++

 

-------------------- The end of English section ----------------------------------

 

PHỤ-LỤC I

BA HẠNG BỒ TÁT

(trích từ sách ĐỨC PHẬT VÀ PHẬT PHÁP

của Narada, Phạm Kim-Khánh dịch ra Việt-ngữ)

+++

 

          Theo Phật-giáo, có ba hạng bồ-tát là: Trí-Tuệ bồ-tát, Tín-đức bồ-tát, và Tinh-Tấn bồ tát.

          Trí-Tuệ bồ-tát ít thiên về ḷng sùng đạo nhưng kiên-tŕ tinh-tấn chuyên-cần hơn trên đường phát-triển trí-tuệ. Tín-đức bồ-tát sùng-mộ, tin-tưởng nơi lễ bái thờ phượng, mà ít chú-trọng về công-tŕnh trau-dồi tâm-trí và bồi-đắp công-đức vị-tha. Tinh-tấn bồ-tát th́ tập-trung vào tinh-thần phục-vụ. Thật hi hữu nếu không phải là không bao giờ, ba đặc-điểm trên điều-ḥa kết-tụ vào một người. Đức Phật Gotama được xem là hạng Trí-Tuệ.

Theo kinh sách, con đường của bậc trí-tuệ bồ-tát ngắn nhất, Tín-Đức bồ-tát phải trải qua một thời gian dài hơn, và Tinh-Tấn bồ-tát, càng dài hơn nữa.

Trí-Tuệ bồ-tát chú-trọïng về công-phu phát-triển trí-tuệ và hành thiền nhiều hơn là nhiệt-thành với những h́nh- thức lễ bái cúng dường bề ngoài. Các Ngài luôn luôn đi theo sự hướng-dẫn của lư-trí và không chấp nhận điều ǵ một cách mù quáng. Không tự bó tay qui hàng một lư-thuyết nào, cũng không làm nô lệ cho một quyển sách, một bộ kinh, hay một cá nhân nào. Trí-tuệ bồ-tát thích trầm-tĩnh, yên lặng để trau-dồi thiền tập. Từ nơi vắng vẻ tịch mịch ấy, Ngài rải những tư tưởng an lành, tuy trầm lặng nhưng hùng dũng, bủa khắp thế gian, để đem lại sự hỗ-trợ tinh-thần cho nhân-loại đau khổ.

Tín-Đức bồ-tát đặt trọn niềm tin-tưởng nơi hiệu- lực của tâm-thành. Saddha, hay niềm tin chân-thành, là đặc-điểm chánh-yếu của Ngài. Cùng với saddha (niềm tin nơi Tam-Bảo) như người bạn đồng-hành trung-tín, Ngài thành-tựu mục-tiêu. Tất cả các h́nh-thức lễ bái, thờ-phượng bụt tượng, là sở-trường của vị tín-đức bồ-tát. Tượng Phật là một nguồn gợi-cảm quan-trọng đối với Ngài.

Nên hiểu rằng người Phật-tử không sùng-bái pho tượng v́ chính cái pho tượng bằng đồng hay bằng gỗ ấy. Người Phật-tử bày tỏ ḷng kính-mộ tinh-thần cao-cả mà pho tượng tượng-trưng, và suy-niệm về phẩm-hạnh và ân-đức của Đấng Từ-Tôn. Càng suy-tưởng đến Đức Phật, càng kỉnh-mộ Ngài. Đó là lư do tại sao mà Phật-giáo không khi nào phủ-nhận các h́nh-thức ngưỡng-mộ bề ngoài, mặc dầu pháp-hành đáng được khuyến-khích hơn và chắc chắn là bổ-ích hơn. Vả lại để đi đến những thành-quả thỏa-đáng, đôi khi trí-thức khô khan cũng cần được hưởng chút ít hương-vị của Đức-Tin. Nhưng đức-tin quá đáng th́ cũng phải nhờ trí-tuệ kềm-hăm để khỏi phải sa vào cuồng-tín.

          Tinh-Tấn bồ- tát th́ luôn luôn t́m cơ-hội để phục- vụ kẻ khác. Không có ǵ làm cho vị bồ-tát hoan-hỷ bằng tích-cực phục-vụ. Đối với các ngài làm việc là hạnh- phúc và hạnh-phúc là làm việc. Không tích-cực hoạt- động th́ các ngài không có hạnh-phúc. Như đức vua Sangha-bodhi xứ Sri Lanka nói: Ta mang tấm thân bằng thịt và máu này là chỉ để đem lại trạng-thái tốt đẹp và an lành cho thế gian.

+++

 

 

PHỤ LỤC II

 

DỊCH-CÂN-KINH

+++

 

          Sau đây, chúng tôi xin tóm-lược phương- pháp tập Dịch-Cân-Kinh, một phương-pháp tập-luyện thể-lực dễ-dàng công-hiệu cho những ai muốn giữ-ǵn sức-khỏe. Phương-pháp này do Ngài Bồ-Đề Đạt-Ma, sơ- tổ Thiền Trung-Hoa, đề ra để giúp cho những đệ-tử mà thể-lực kém có thể giữ-ǵn sức-khỏe cho tốt.

Trong phương-pháp này, người tập đứng một chỗ và vung hai tay qua lại trong khoảng nửa giờ. Cần t́m chỗ thoảng-khoát, có không-khí trong-lành. Nên đi dép và mặc quần áo rộng thoáng. Những bước tập như sau:

1)       - Đứng tư-thế thẳng, hai chân thẳng, hai bàn  chân song-song, làm thành một đường thẳng đứng với hai vai. Ngón chân bám vào đất, bắp chân hơi gồng, hậu môn thít lên.

2)       - Đầu hơi ngửng lên, lưỡi cuộn tṛn, đầu lưỡi đụng hàm-ếch phía trên.

3)       - Hai cánh tay buông xuôi theo người, bàn tay khum, năm ngón tay khép nhẹ, bàn tay hướng về phía sau, hai ngón cái để gần thân.

4) - Vung hai cánh tay để chúng làm thành một góc 60 độ về phía sau, rồi buông cánh tay cho trở về vị-trí thẳng và vung quá chút ít về phía trước theo quán-lực.

5) - Bắt đầu tập-trung vào việc đếm số lần vung tay, một lần cho mỗi động-tác vung tay ra sau và về trước. Đếm từ một đến mười, rồi từ mười quay trở lại một. Đó là một ṿng.

6) - Làm mười ṿng, đếm từ một đến mười, rồi mười lần nữa, đếm từ mười trở lại một. Đó là một bộ.

7) - Làm ba bộ như vậy. Khoảng thời-gian tập mất chừng 25 phút.

8) - Trong khi tập, đừng để trí óc lăng-xăng, mà tập-trung vào việc đếm. Đây là một cách Thiền đứng.

9) - Sau khi tập xong, đi bộ khoảng 15 phút, hai tay xoa vào nhau cho máu-huyết lưu-thông đều ḥa lại, nhất là hai bàn chân đứng lâu có thể cảm thấy tê.

10) - Tập hàng ngày. Dù đây là một phương- pháp tập khá nhẹ nhàng, nhưng sẽ đem đến nhiều kết-quả đáng kể cho việc đưa con người về thế cân-bằng, phù-hợp với nhịp thở của thiên- nhiên.

 

+++