Lược giải về ư chính của Bát Nhă Tâm Kinh - minh-an@buddhist.com
Thưa quư đạo hữu,
Cách đây mấy tuần chúng ta có bàn căi về Bát Nhă Tâm Kinh 般若心經, hay nói cho đầy đủ là “Ma Ha Bát Nhă Ba La Mật Đa Tâm Kinh,” mà nguyên tác viết bằng Sanskrit là Mahaprajñāpāramitā-hridaya-sūtra (Anh ngữ: Heart of Perfect Wisdom Sutra, Hoa ngữ: 般若波羅蜜多心經). Lần cuối cùng, với một bạn trong nhóm, tôi nói đă rằng “Nếu anh thiền th́ anh sẽ biết ngay bài kinh đó nói ǵ! Và thực ra chỉ cần hiểu danh hiệu ‘Quán Tự Tại’ là biết ngay đại ư của bài kinh.” Tuy nhiên, nếu truy cập vào các websites của các tôn giáo khác, chúng ta có thể thấy nhiều người “ngoại đạo” đă không ngừng mang những ư niệm đối đăi trong bài kinh đó ra làm tṛ cười, diễu dở, etc…
Nhận thấy các “chuyên viên diễu” đó đă sai lầm v́ chỉ chú ư đến “phần ngọn” của bài Tâm Kinh, mà quên mất “phần gốc,” cho nên thư này được viết để bổ túc thêm chút đỉnh. Xin xem đây chỉ là vài gợi ư cho mấy bạn mới bắt đầu t́m hiểu Phật Pháp. Chi tiết rơ ràng có thể t́m xem trong các bài luận giải của các đại sư uyên bác, nhất là bộ Đại Trí Độ Luận của ngài Long Thọ.
Như vậy, “phần gốc” của bài Tâm Kinh đó nói ǵ? Xin hăy đọc:
QUÁN TỰ TẠI Bồ
Tát HÀNH THÂM BÁT NHĂ BA LA MẬT ĐA thời …
Đây chính là “phần gốc” của bài kinh. Tất cả những đoạn c̣n lại đều là “phần ngọn”, nói lên cái nh́n (view) của người đă thực hành “BÁT NHĂ BA LA MẬT ĐA sâu thẳm (dẫn) đến bến bờ giải thoát.”
“Bát Nhă Ba La Mật Đa” là phiên âm từ chữ Sanskrit “prajñāpāramitā.” “Bát nhă” hay “prajña” có nghĩa là “trí tuệ.” Và “Ba La Mật Đa” hay “pāramitā” có nghĩa là “qua đến bờ bên kia” (thuật ngữ Hán-Việt gọi là “đáo bỉ ngạn,” có chỗ c̣n dịch là “độ”). “Bờ bên kia” là “bờ giải thoát” v́ trong đạo Phật, “sinh tử luân hồi” thường được ví như biển cả, hay một gịng sông. (Chắc hẳn các bạn đă từng nghe câu “đời là bể khổ, nhưng quay lại là thấy bến bờ!”). Như vậy, “Bát Nhă Ba La Mật Đa” chính là “trí tuệ không tánh” v́ lúc thể nhập không tánh là lúc người ta đă vượt qua bể trầm luân đến bến bờ giải thoát (Xin lưu ư ở đây: Chữ “không tánh” (tức “shūnyatā”, hay “suniyata”) được dùng v́ đây là một bài kinh Phật Giáo Đại Thừa, thay v́ “vô ngă” (anatta) của Phật Giáo Nguyên Thủy).
Nhân tiện, cũng xin thưa rằng chữ “độ” như trong Đại Trí Độ Luận của ngài Long Thọ, hay “Lục Độ Ba La Mật” (tức 6 phép tu của Bồ tát) có nghĩa là “đưa người khác sang bến bờ giải thoát.” Như vậy, thuật ngữ “cứu độ” hay “hoá độ” hoàn toàn nằm trong ư nghĩa của đạo Phật.
Nguyên văn tiếng Sanskrit của bộ luận này cũng như tên tác giả là Mahaprajñāpāramitā-shastra của Nāgārjuna (“Maha” là “to lớn”, Hán-Việt gọi là “Đại,” và “shastra” là “luận giải”); c̣n tựa đề của bài kinh có chữ “hridaya,” Hán-Việt dịch là “tâm,” bao hàm ư nghĩa là “chính yếu” hay “quan trọng nhất.” Và như vậy, ư nghiă tổng quát của tựa đề bài kinh cũng có thể hiểu một cách nôm na là “Bài kinh quan trọng nhất có khả năng giải thoát mọi khổ đau bằng trí tuệ to lớn.”
Trước đó, có chữ “Quán Tự Tại” là danh hiệu của vị bồ tát trong bài kinh. Sanskrit gọi là “Avalokiteshvara.” Trong nhiều bài kinh khác (như phẩm Phổ Môn trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa) chữ này được dịch là “Quán Thế Âm.” Đây chỉ là một cái tên. Nhưng mà khác với Tây Phương, tên Á Đông luôn luôn mang một ư nghĩa nào đó. Vậy th́ xin mạn phép tạm giải thích sơ lược: “Quán” có nghĩa là “nh́n/nghe/suy tư/chiêm nghiệm một cách thâm sâu”, “Thế Âm” là “âm thanh của thế gian” (hay “âm thanh khổ đau của chúng sinh trong thế gian”), c̣n “Tự Tại” bao hàm ư nghĩa “cực lạc” hay “niết bàn” –một trạng thái thiền mà không ngôn ngữ văn tự nào diễn tả chính xác được. Cụm từ “an nhiên tự tại” mà chúng ta thường nghe cũng nằm trong ư nghĩa này. Nhưng hiểu theo tinh thần Phật Pháp th́ “tự tại” chính là trạng thái “thường lạc (khi) ngă tịnh”, tức là “niềm an lạc thường hằng” lúc “cái ta” không c̣n dấy động nữa. Lúc đó là lúc thể nhập “không tánh.”
Tóm lại, ư nghĩa quan trọng nhất của bài Bát Nhă Tâm Kinh nằm ở ngay câu đầu. Và nếu chúng ta thực hành pháp “Bát Nhă Ba La Mật Đa sâu thẳm” như ngài Quán Tự Tại Bồ Tát th́ chúng ta cũng sẽ thấy “ngũ uẩn giai không” (tức sắc, thọ, tưởng, hành và thức, hay 5 yếu tố làm nên “cái ta” đều không có tự thể), do đó chúng ta cũng sẽ chấm dứt mọi khổ đau.
Tất cả các đoạn sau của bài kinh (hay “phần ngọn”) chỉ nhằm nói nên cái nh́n không chấp trước về vạn pháp xuyên qua cặp mắt trí tuệ không tánh của người đă chấm dứt mọi khổ đau và đă giải thoát khỏi sinh tử luân hồi. 5 chữ quan trọng nhất trong phần này là “Thị chư pháp không tướng …”
Đoạn kết nói rằng tất cả các vị “Bồ đề tát đoả” cũng hành tŕ theo pháp “Bát Nhă Ba La Mật Đa sâu thẳm” mà tâm không c̣n vướng mắc, (nên) xa ĺa được tất cả mộng tưởng điên đảo, và giác ngộ được niết bàn (nirvāna). “Bồ đề tát đoả” (bodhisattva) -thường được viết tắt là “Bồ tát”, có nghĩa là một chúng sinh hữu t́nh (sattva) đă giác ngộ (bodhi). Và v́ tâm đă trống rỗng, không c̣n dính mắc, không c̣n phân biệt, cho nên các vị bồ tát có thể tích cực cứu giúp muôn loài.
Cũng vậy, chư Phật trong quá khứ, hiện tại và vị lai, v́ cũng đă từng tu hành theo pháp “Bát Nhă Ba La Mật Đa sâu thẳm” mà đắc được “A nậu đa la tam miệu tam bồ đề” (Anuttara-samyaksambodhi) –một thuật ngữ Phật học mà Hán-Việt dịch là “Vô thượng chính đẳng chính giác” (tức quả vị giác ngộ cao nhất).
Cuối cùng, (v́ biết có công năng diệu dụng như vậy), “Bát Nhă Ba La Mật Đa” là đại thần chú, là đại minh chú, là vô thượng chú, là vô đẳng đẳng chú (tức không có chú nào sánh bằng), có thể thực sự diệt trừ được được khổ đau, cho nên (ngài quán Tự Tại Bồ Tát) liền nói chú:
“YẾT ĐẾ,
YẾT ĐẾ, BA LA YẾT ĐẾ, BA LA TĂNG
YẾT ĐẾ, BỒ ĐỀ TÁT BÀ HA”
(“Gate, gate, paragate, parasamgate, bodhi, svaha!”)
Như đă nói, đây chỉ là lược giải ư nghĩa quan trọng nhất của bài Tâm Kinh. Muốn biết rơ chi tiết xin quư vi tham khảo Đại Trí Độ Luận của ngài Long Tho, hay các sách của các thày Thiện Hoa, Trí Thủ, Thanh Từ, Nhất Hạnh, etc…
Kính,
Minh An
Phụ lục:
Quán
Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát nhă Ba la mật đa
thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ
nhứt thiết khổ ách.
Xá
Lợi Tử, sắc bất dị không, không bất
dị sắc, sắc tức thị không, không tức
thị sắc, thọ tưởng hành thức diệc
phục như thị.
Xá
Lợi Tử, thị chư pháp không tướng, bất
sanh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất
tăng bất giảm.
Thị
cố không trung vô sắc, vô thọ tưởng hành
thức.
Vô
nhăn nhĩ tỷ thiệt thân ư, vô sắc thanh hương
vị xúc pháp, vô nhăn giới năi chí vô ư thức giới.
Vô
vô minh, diệc vô vô minh tận, năi chí vô lăo tử, diệc
vô lăo tử tận.
Vô
khổ, tập, diệt, đạo.
Vô
trí diệc vô đắc, dĩ vô sở đắc cố.
Bồ
đề tát đơa y Bát nhă Ba la mật đa cố, tâm vô
quái ngại, vô quái ngại cố, vô hữu khủng
bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng,
cứu cánh Niết bàn.
Tam
thế chư Phật, y Bát nhă Ba la mật đa cố,
đắc A nậu đa la Tam miệu Tam bồ
đề.
Cố
tri Bát nhă Ba la mật đa, thị đại thần chú,
thị đại minh chú, thị vô thượng chú,
thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ
nhất thiết khổ, chân thật bất hư.
Cố
thuyết Bát nhă Ba la mật đa chú, tức thuyết chú
viết
Yết đế yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha.
Ngài
Bồ Tát Quán Tự Tại khi thực hành trí tuệ Bát Nhă
Ba la mật thâm sâu, th́ soi thấy năm uẩn đều
là không, do đó vượt qua mọi khổ đau ách
nạn.
Nầy
Xá Lợi Tử, sắc chẳng khác ǵ không, không chẳng
khác ǵ sắc, sắc chính là không, không chính là sắc,
thọ tưởng hành thức cũng đều như
thế.
Nầy
Xá Lợi Tử, tướng không của các pháp ấy
chẳng sinh chẳng diệt, chẳng nhơ chẳng
sạch, chẳng thêm chẳng bớt.
Cho
nên trong cái không đó, nó không có sắc, không thọ
tưởng hành thức.
Không
có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân ư. Không có sắc,
thanh, hương vị, xúc pháp. Không có nhăn giới cho
đến không có ư thức giới.
Không
có vô minh,mà cũng không có hết vô minh. Không có già chết, mà
cũng không có hết già chết.
Không
có khổ, tập, diệt, đạo.
Không
có trí cũng không có đắc, v́ không có sở đắc.
Khi
vị Bồ Tát nương tựa vào trí tuệ Bát Nhă
nầy th́ tâm không c̣n chướng ngại, v́ tâm không
chướng ngại nên không c̣n sợ hăi, xa ĺa
được cái điên đảo mộng tưởng,
đạt cứu cánh Niết Bàn.
Các
vị Phật ba đời v́ nương theo trí tuệ Bát
Nhă nầy mà đắc quả vô thượng, chánh
đẳng chánh giác.
Cho
nên phải biết rằng Bát nhă Ba la mật đa là
đại thần chú, là đại minh chú, là chú vô
thượng, là chú cao cấp nhất, luôn trừ các
khổ năo, chân thật không hư dối.
Cho
nên khi nói đến Bát nhă Ba la mật đa, tức là
phải nói câu chú:
Yết
đế yết đế, ba la yết đế, ba la
tăng yết đế, bồ đề tát bà ha.
(Qua
rồi qua rồi, qua bên kia rồi, đến bờ bên kia
rồi, giác ngộ rồi đó!)
Khi
hành Bát Nhă Ba La
Ngài Quán Tự Tại soi ra tột cùng
Thấy ra năm uẩn đều Không
Bao nhiêu khổ ách khốn cùng độ qua
Nầy
Xá Lợi Tử xét ra
Không là sắc đó, sắc là không đây
Sắc cùng không chẳng khác sai
Không cùng sắc vẫn sánh tài như nhau
Thọ, tưởng, hành, thức uẩn nào,
Cũng như sắc uẩn, một màu không không
Nầy
Xá Lợi Tử ghi ḷng
Không không tướng ấy, đều không tướng
h́nh
Không tăng giảm, không trược thanh
Cũng không diệt, cũng không sanh pháp đồng
Vậy nên trong cái chơn không
Vốn không năm uẩn, cũng không sáu trần
Mắt, tai, mũi, lưỡi, ư, thân
Vị, hương, xúc, pháp, cùng phần sắc, thinh
Từ không giới hạn mắt nh́n
Đến không ư thức, vô minh cũng đồng
Hết vô minh, cũng vẫn không
Hết già, hết chết, cũng không có ǵ
Không khổ, tập, diệt, đạo kia
Trí huệ chứng đắc cũng là không không
Sở
thành, sở đắc bởi không
Các v́ Bồ Tát nương tùng huệ năng
Tâm không c̣n chút ngại ngăn
Nên không c̣n chút băng khoăng sợ ǵ
Đảo điên mộng tưởng xa ĺa
Niết Bàn mới đến bên kia bến bờ
Ba
đời chư Phật sau, xưa
Đắc thành Chánh Giác cũng nhờ huệ năng
Trí huệ năng lực vô ngần
Đại Minh vô thượng, Đại Thần cao siêu
Trí huệ năng lực có nhiều
Thật là thần chú trừ tiêu năo phiền
Trí huệ năng lực vô biên
Dẫn đường giải thoát qua bên giác ngàn
Liền theo lời chú thuyết rằng:
Độ tha giác ngộ khắp trần chúng sanh.
Yết
đế, yết đế
Ba la yết đế
Ba la tăng yết đế
Bồ đề Tát bà ha
Trích từ: