Đàn
tràng Giải oan
Nh́n dưới
khía cạnh tâm lư dân tộc và tâm lư trị liệu
Trần
Kiêm Đ̣an
E-Mail: trankiemdoan@khoahoc.net
29 tháng
03 năm 2007
Nguồn
gốc ở www.khoahoc.net
Oan và giải oan
Sự phán xét công bằng và hợp lư về một sự
việc đă xảy ra, một hành động đă làm là
công lư hay bất công, thông suốt hay vướng mắc,
oan hay không oan thường không đơn giản, rơ ràng và
cụ thể như trắng với đen, sáng với tối.
Do đó, sự phân định và quyết đoán rạch
ṛi những hành động hay sự cố xảy ra,
đă vi phạm đến mạng sống, tài sản và
tinh thần... là oan hay không oan thường bị vướng
mắc do vị thế, quan điểm, văn hóa và cả
một chuỗi hệ lụy theo sau.
Với một ḍng lịch sử triền miên trong chiến
tranh, với bao nhiêu tai trời ách nước,
người Việt
Nỗi oan ức có mẫu số chung trong
cả hai nền văn hóa Đông và Tây. Nhưng
cách giải quyết nỗi oan thường mang nặng yếu
tính của truyền thống, xă hội và đức tin.
Trước khi đạo Phật và đạo
Chúa ra đời và du nhập vào Việt
Đạo Phật truyền thừa vào Việt
Với khái niệm giải oan đời
thường mang tính đại chúng trên đây, đạo
Phật đi vào cuộc đời và đóng vai một tôn
giáo điển h́nh về những lễ nghi và kinh văn sử
dụng trong việc giải oan thông qua những Đại
Trai đàn Bạt độ Giải oan. Đạo Phật
không dựa vào một quyền năng tuyệt đối
hay tin vào một đấng sáng tạo có toàn năng quyết
định số phận của con người như thế;
mà xem mọi chuyện lớn nhỏ xảy ra là một chuỗi
sự kiện tác động qua lại với nhau theo
nguyên lư nhân quả dưới tác động của trùng
trùng Duyên Nghiệp. H́nh thái sự sống hiện tiền
và khuynh hướng tâm linh thay đổi thường
xuyên, được tạm gọi là "số phận"
của một người, luôn luôn biến đổi theo tác động khách quan và có thể thay
đổi, cải thiện theo tác động chủ quan. V́ vậy, Đàn tràng Giải oan chỉ là một
trong muôn vàn h́nh thức làm phương tiện góp phần
cho quá tŕnh thay đổi và cải thiện đó. Thế
nhưng, thật ra, khái niệm “oan” và “giải oan” không có
trong kinh điển của đạo Phật nguyên thủy.
Hiện trạng của một sự dính mắc vào hành
động hay hệ quả bất thường được
gọi là “oan” không hiện diện trong đạo Phật
v́ rằng: Sự việc xảy ra trong giây phút hiện tiền
là do tác động của Nghiệp. Nghiệp là sự tích
lũy mọi hành động và sự việc thiện ác,
lớn bé, cao thấp... từ vô số
kiếp trước cho đến nay. Mọi sinh vật và
sự vật (pháp) đều chết đi và sinh ra trong từng
nháy mắt hay trong từng đơn vị vi
tế nhất của thời gian được gọi là
Sát-na. Một thực thể hiện tiền chỉ là một
h́nh ảnh mang một tên gọi giả tạm do Nghiệp
tạo ra; rồi lập tức bị biến đổi
do một lực tác động khác gọi là Duyên. Sự sống chết nầy là nguyên nhân và thực
thể của quá tŕnh thành, trụ, hoại, diệt; sinh,
già, bệnh, chết mang tính khách quan mà không một sinh vật
hay sự vật nào tránh khỏi. Trong chuỗi dài Nghiệp
và Duyên tương tác, biến hiện trùng trùng đó, nguyên
lư nhân quả chi phối sự vận hành theo
một tiến tŕnh chặt chẽ. Tiến tŕnh nầy vừa
chi li vừa rộng khắp; vừa hữu h́nh, vừa vô
h́nh; vừa tâm linh vừa vật lư mà với nhăn thức giới
hạn của con người th́ sự diễn tiến
như vừa hợp lư, vừa phi lư nên người ta chỉ
c̣n biết dùng những nhăn hiệu đă có sẵn như
thiện và ác, oan và không oan, cao cả và hèn mọn... để
tạm dán vào mà phân định.
Bước chủ động và tích cực tiếp theo là
sự cố gắng t́m cách hóa giải, biến đổi
cái "thân phận hiện tiền" thành một thể
trạng khác theo ước muốn cải thiện và
vươn lên của người bị oan hay người
giúp giải oan trong một thời điểm, một
cơ hội thuận lợi nào đó mà chữ nhà Phật
gọi là "duyên". Giải oan, do đó, là những
phương tiện trung gian và tạm thời giúp “sửa
sai” một trạng huống vô minh trong quá khứ thành sáng tỏ
và công chính trong hiện tại và tương lai. Nhờ đấy – ít nhất cũng là qua sự
tin tưởng của những người ở thế tự
nguyện làm kẻ cầu nguyện, biện minh -- nỗi
oan ức sẽ được hóa giải và sự đày ải
của nạn nhân chịu oan sẽ được chấm
dứt. Nghi thức giải oan, tự bản chất,
là một ư hướng hành thiện, lợi tha mang tinh thần
từ bi (cứu người bị ch́m đắm), hỷ
xả (hóa giải) và trí tuệ (phá vô minh) của Phật
giáo. Nó hoàn toàn khác xa với những h́nh thức "cải
đạo linh hồn tập thể" của những
tôn giáo bạn xây dựng đức tin trên căn bản mỗi
người có một linh hồn bất tử đời
đời không thay đổi. Khi không c̣n ai theo
đạo Phật, không c̣n ai đau khổ giữa trần
gian nầy là khi đạo Phật ca khúc khải hoàn viên
thành Phật sự. [1]
Đạo Phật, với triết lư cơ bản cho rằng
mọi vật đều không có tự tánh, không một vật
hay sự vật chi ly hay to lớn nào đứng riêng lẻ
tự nó mà thành (Tính Không); và cũng chẳng có hiện
tượng hay biến cố nào không có sự kết hợp
với yếu tố khác mà vận động, biến hiện
(Duyên Khởi), nên rơ ràng quan niệm là chẳng có sự việc
nào hay bất cứ hiện trạng nào mang bản chất
“oan” hay “không oan” cả. Ngay như khi một đại
đệ tử của đức Phật Thích Ca có thần
thông đệ nhất, hiếu hạnh song toàn là ngài Mục
Kiền Liên bị bọn cướp giết chết th́ cũng
chẳng có ǵ là oan trái nếu nh́n dưới nhăn quan và trí
tuệ Phật đà. Trái lại, trong chuỗi
duyên nghiệp trùng trùng th́ bồ tát Mục Kiền Liên cũng
không thể nào thoát khỏi lưới nghiệp. Ngài
phải trả nghiệp tiền kiếp đă bỏ
đói cha mẹ giữa rừng sâu trước khi rũ sạch tất cả nghiệp báo
để đạt sự giải thoát trọn vẹn.
Nhưng kể từ khi “thiền sư xuống núi” để
thơng tay vào chợ, mang đạo Phật từ một
phương trời cao viễn, từ cỗ xe dê, xe
hươu tiểu thừa, nghiêng vai vào gánh thế sự
bằng cỗ xe ḅ đại thừa [2]
th́ đạo Phật đă đi vào cuộc đời
hiện thực. Đạo vào Đời để cứu
đời và giúp đời như cỗ xe
ḅ chuyên chở nỗi khổ trần gian. Mà trần gian nầy
th́ đầy dẫy chuyện được gọi là oan
khiên và thống khổ nên giải oan và hóa giải cũng
là một phần cứu khổ để góp phần
băng bó những vết thương tâm lư c̣n tươi;
những nỗi đau đời chưa lành lặn; và những
oan trái c̣n đè nặng tâm linh mà thời gian chưa đủ
chữa lành.
Không đợi đến khi ngài Huyền
Trang trở về sau chuyến Tây du mới có lễ siêu
độ cô hồn thường được coi như
đă tổ chức lần đầu tiên dưới thời
nhà Đường bên Trung Quốc. Thật ra, khái niệm
giải oan, mở trói, vớt sinh linh ra khỏi địa
ngục trong ḍng sinh hoạt tâm linh của Phật giáo
đă có từ khi Mục Kiền Liên vận dụng sức
mạnh tổng hợp từ sự chú nguyện của
các bậc tu hành tôn túc để cứu người mẹ
độc ác ra khỏi địa ngục A Tỳ. Và với
dân tộc Việt Nam, từ thời b́nh minh của lịch
sử Phật giáo khi du nhập vào đất Việt
đă có h́nh ảnh "oan Thị Kính" và vai tṛ "rửa
oan" của cửa nhà chùa rộng mở.
Tinh thần giải oan là tâm lư dân tộc
Giải oan - trong tín lư đạo Phật hay trong bất cứ
ư hướng cứu rỗi của tôn giáo nào - vừa là
triết lư sống vừa là đạo lư của dân tộc
Việt
Lịch sử cận đại đă ghi lại rằng,
sau khi đại phá quân Thanh năm Kỷ Dậu (1789), vua
Quang Trung đă hạ chiếu truyền làm lễ tưởng
niệm các tướng sĩ hữu công và tiến cúng cô hồn,
giải oan cho các oan hồn uổng tử của mấy vạn
quân Thanh đă nằm xuống trên đất nước
ta. Vua Gia Long sau khi thống nhất sơn hà cũng
đă cho thiết đàn tràng siêu độ cho quan quân tử
sĩ và những oan hồn đă nằm xuống trong cuộc
chiến không phân biệt bên nào (1802).
Nhiều danh nhân văn học Việt
Niềm tin nhất quán trong tất cả các
cuộc Trai đàn bạt độ Giải oan là cầu
nguyện cho "âm siêu dương thái". Đối
với các vong hồn đă chết, dù chết bởi nhiều
biến cố và t́nh huống khác nhau, nội dung vẫn bao
gồm 3 mục tiêu giải oan chính:
Đối với người c̣n sống,
Đàn tràng Giải oan mang đến một nguồn tâm lư
trị liệu (psychotherapy) tập thể rất cần
cho sự an ḥa trong cuộc sống. Nội
dung cũng gồm 3 điểm chính:
Trong lĩnh vực tâm bệnh
học (Psychopathology) đương đại, chứng bệnh
tâm thần mới nhất được chính thức
đưa vào Cẩm nang chẩn trị bệnh tâm thần
(DSM: Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorder) lần
đầu tiên vào năm 1980 là chứng bệnh
"PTSD" mới được phát hiện từ các cựu
chiến binh Hoa Kỳ đă tham gia vào cuộc chiến Việt
Nam. PTSD là chữ viết tắt của Post
Traumatic Stress Disorder. Xin tạm dịch
là "Hội chứng hậu chấn thương".
Đây là căn bệnh tâm thần do sự ám ảnh của
một biến cố kinh hoàng nào đó đă xảy ra trong
quá khứ, đeo đẳng măi trong tâm thức -- hữu
thức và vô thức -- làm cho bệnh nhân thường xuyên
sống trong một trạng thái tâm thần bất ổn
và nếu không chữa trị sẽ thành rối loạn,
điên khùng. Người bệnh thường xuyên hay thỉnh
thoảng ở trong một trạng thái tâm lư đề
pḥng, hồi hộp, lo sợ vu vơ,
nóng giận bất thường, vui buồn lẫn lộn
mà không biết v́ đâu. Trong nhiều trường hợp
nghiêm trọng, bệnh nhân có thể trở nên điên tiết,
bạo động, tự tử, giết người, chống
lại xă hội, bất chấp pháp luật, chà đạp
đạo lư... mà không có ư thức về hành động của
ḿnh. Đă có hàng ngh́n cựu chiến binh Việt
Bao nhiêu con trẻ thuộc thế hệ thứ hai và thứ
ba sau cuộc chiến Việt Nam vẫn c̣n bị khuyết
tật, sinh ra dị h́nh, dị tướng, mang bướu
độc Hodgkin, bệnh liệt tuyến măn tính
non-Hodgkin... bởi di lụy của gần 50 triệu lít Chất
độc Da cam (Agent Orange) [4]
đă thấm vào da thịt Việt Nam? Bao nhiêu thương
tích của thể xác và tâm hồn chưa lành với hơn
5 triệu sinh mạng của quân và dân Việt cả hai miền
Nam Bắc đă nằm xuống trong suốt 30 năm chiến
tranh?
Trước sự vắng bóng của một h́nh thức
chữa trị tâm lư thường xuyên và chuyên nghiệp
như ở phương Tây, người Việt bị chấn
thương hay mang hội chứng hậu chấn
thương lâu dài của tâm hồn và thể xác chỉ c̣n
biết nương tựa vào những người thân nhất.
Cho tất cả mọi h́nh thức nhắc nhở, ghi nhớ,
chú nguyện cho người chết và giải tỏa những
ẩn ức tinh thần cho người sống không phải
chỉ có Phật giáo mà tất cả mọi tôn giáo và tổ
chức nhân đạo... đều là cần thiết sau
cuộc bể dâu nầy.
Trai đàn chẩn tế Giải oan của Thầy Thích
Nhất Hạnh và Tăng thân Làng Mai
Theo thông báo của Đạo Tràng Mai Thôn và truyền thông quốc
tế, cuối tháng 2 năm 2007, thầy Thích Nhất Hạnh
đă hướng dẫn một phái đoàn tăng thân Làng
Mai từ Pháp về Việt Nam, phối hợp với Phật
giáo trong nước để thiết Trai đàn Giải
oan tại Sài G̣n, Huế và Hà Nội. Theo tinh
thần thông báo, Đại Trai đàn Giải oan nầy có
tên là "Thủy lục Giải oan B́nh đẳng Cứu
bạt". Mục đích là để cầu nguyện
sự giải thoát, siêu độ cho những người
đă chết dưới nhiều h́nh thức như chiến
tranh, tai nạn, thiên tai... cũng như
mong cầu sự an lạc cho người sống sau cuộc
chiến. Tinh thần chủ đạo của Trai đàn nầy
hay bất cứ Trai đàn nào của Phật giáo đúng
nghĩa từ trước tới nay là tuyệt đối
b́nh đẳng, không phân biệt tuổi tác, giới tính,
khuynh hướng hay hoàn cảnh xuất thân.
Đứng về mặt tôn giáo, Trai đàn Bạt độ
Giải oan mang bản chất hành thiện trên căn bản
tâm linh và tinh thần. Khi một hệ thống lư thuyết,
suy luận biến thành đức tin trong đời sống
tâm linh th́ vấn đề c̣n lại là tin hay không tin - linh
tại ngă, bất linh tại ngă - mà thôi. Mọi sự tranh
luận, so sánh, mổ xẻ, phân tích về một đức
tin tôn giáo hay một nếp nghĩ tâm linh đă định
h́nh của một tập thể đều không có căn bản
thực hữu để đả phá hay lung lạc
được những người đă xây niềm tin vững
chắc trong chính ḿnh.
Đứng về mặt tâm lư và xă hội Việt
Thế giới bên ngoài đang nh́n về Việt
Với đạo Phật, trai đàn chẩn
tế giải oan là một h́nh thức sinh hoạt tâm linh
thường xuyên và rộng khắp. Quy mô có thể
khác nhau từ một nhóm bạn bè, một gia đ́nh, một
ḍng họ, một làng xă cho đến từng miền, từng
giáo hội hay toàn quốc... tùy nghi phương tiện,
nhưng không phải là một "sự cố" mới
mẻ hay quá trọng đại và hiếm hoi trong quá tŕnh
hoằng dương đạo pháp của Phật giáo
như nhiều người ngộ nhận. Trai
đàn chẩn tế giải oan không phân biệt c̣n là cách
thể hiện ḷng từ bi, cầu giải thoát trong công hạnh
Bồ Tát của giới Phật tử xuất gia cũng
như tại gia.
Trên căn bản ngành Tham vấn (Counseling) và Tâm lư Trị
liệu (Psychotherapy) vốn đă phát triển sâu rộng tại
hầu hết các nước phương Tây mà Việt Nam
chúng ta c̣n vắng bóng - hay chỉ mới ở trong giai
đoạn nghiên cứu và tham khảo - các cuộc cầu
nguyện tập thể của mọi tôn giáo nói chung và h́nh
thức lễ nghi Đại Trai đàn Bạt độ
Giải oan của Phật giáo nói riêng có một tác dụng
tâm linh và tâm lư tương tự. Nếu ngành tham vấn và
tâm lư trị liệu phương Tây giúp chữa trị những
di chứng của nhiều căn bệnh tinh thần do chiến
tranh và tai ương nạn khổ gây ra th́ những cuộc
thiết đại trai đàn cũng giúp hóa giải những
xung đột tâm lư và niềm tin đă bị chao đảo,
đổ vỡ hay băng hoại. Đặc biệt nó
có khả năng an ủi hay giải quyết được
bước đầu những di lụy hận thù, uất
ức, oan nghiệt giữa người sống và người
chết; giữa người phía này và người phía nọ.
Sống ở các nước tiên tiến phương Tây,
đa số người Việt đă dựa vào gia
đ́nh và cộng đồng sắc tộc của ḿnh
để chia sẻ, an ủi, hỗ trợ, tham khảo...
thay cho một h́nh thức tham vấn chuyên nghiệp
(professional counseling). Tương tự như thế, trong
bao năm qua, người Việt đă nương vào các
sinh hoạt tâm linh tôn giáo tại các nhà thờ, chùa chiền,
tự viện để làm chỗ dựa tinh thần thay
cho h́nh thức tâm lư trị liệu. Với cái nh́n tích cực
từ phía tâm bệnh học, Đại Trai đàn Bạt
độ Giải oan đang được tổ chức
rộng khắp trên toàn quốc là một sự góp phần
tích cực vào một cuộc "Tâm lư trị liệu"
tập thể mà những người đang c̣n gánh chịu
di lụy của cuộc chiến Việt Nam trong thầm lặng
đang cần.
Kết luận
Trong lịch sử truyền thừa của đạo Phật,
h́nh thức Trai đàn Bạt độ Giải oan là một
phương tiện độ sanh. Theo tinh thần
đạo Phật, đây hoàn toàn không phải là một
hành động ban phát "cứu rỗi" hay "phán
xét" mà chỉ là một tiến tŕnh hành đạo mang
tính cách xả kỷ, hành thiện. Trong tinh thần
đó, hàng cao tăng đại đức chủ tŕ nghi thức
hành lễ đóng vai những hành giả cao tuổi đạo
và đầy đức độ trong khuôn khổ của
một tôn giáo phát nguyện từ tâm đứng ra thực
hiện. Hùng lực giúp Trai đàn thành
công không phải là h́nh thức trần thiết bên ngoài mà
chính là năng lực dốc ḷng chú nguyện của tất
cả Phật tử và những người bạn đạo.
Phương tiện thiện xảo giúp Trai đàn đạt
ư nguyện xưa nay vẫn là hạnh từ bi và đức
khiêm hạ của chư tăng ni và
chư Phật tử phát tâm; tuyệt đối không có chỗ
đứng trong ḍng suối tâm linh cho sự phô
trương h́nh thức hay thánh hóa nhân vật và cường
điệu tác dụng. Theo truyền thống Phật giáo,
ngay cả các bậc tăng ni tôn túc chủ lễ trong các
Đại Trai đàn cũng chỉ xin nguyện được
gieo duyên lành bằng cách chuyên tŕ nương vào năng lực
của Hồng ân Tam bảo để chú nguyện hầu
mong cải nghiệp cho người và cho chính ḿnh trên con
đường tu học hóa đạo, giúp đời.
Đấng giác ngộ như đức Phật ngày xưa
đă thuyết pháp độ sanh trong suốt 49 năm trời
mà vẫn khiêm cung ngỏ lời rằng: "Vạn pháp
như rừng cây trùng điệp mà những điều ta
nói ra th́ chưa bằng nắm lá trong tay."
Bởi thế, tinh thần hành đạo
của Phật giáo xưa nay vẫn thường được
ví von là "tường vân, pháp vũ". Nghĩa là những h́nh thức lễ nghi, cầu
nguyện, thuyết pháp xiển dương lời Phật
dạy ví như "mây lành, mưa pháp". Trong
cơn mưa pháp, không phải ai cũng có nhu cầu giống
nhau và chấp nhận sự thẩm thấu như nhau. Chẳng
hạn như những người đă chết hay c̣n sống
sau cuộc chiến tranh Việt
Trai đàn Giải oan không phải là một cuộc "lên
đồng tập thể" để kéo tất cả
mọi đối tượng vào một cuộc hành
hương tâm linh đồng đẳng và đồng
điệu như sự tưởng tượng quá phong
phú của một thiểu số người chưa có thiện
duyên để t́m hiểu chín chắn. Thế
nhưng lác đác đó đây, vẫn có hiện tượng
ngộ nhận nghiêm trọng về một cuộc "giải
oan tập thể" như vậy. Xu
hướng hiểu lầm đó cho rằng, phải minh
định đối tượng nào cần phải “giải
oan trước đă”. Đấy là một
yêu cầu nghịch lư v́ xưa nay tiếng chuông chùa không
đi t́m đối tượng nghe là ai mới gióng lên.
Mọi sự phân biệt đối xử
như thế sẽ hoàn toàn đi ngược lại với
tinh thần bạt độ và hồi hướng của
nghi thức Trai đàn. Và hậu luận
tất nhiên của một sự ngộ nhận tiêu cực
như thế là những phản ứng chủ quan biểu
hiện ở nhiều mức độ. Nhưng
đáng tiếc nhất là phản ứng ở ngoài lằn
mức nhân văn như vọng ngôn, quy chụp, mạ lỵ
cá nhân người khác một cách chủ quan, thô thiển và
đầy cảm tính vội vàng mà chữ nhà Phật gọi
là vô minh. Đạo Phật ra đời và tự
nhận là một phương tiện phá vô minh. Dám
mong, các thiện hữu chưa quen với phương tiện
phá vô minh ấy sẽ thử dùng để không nhận lầm
phương tiện làm cứu cánh, hay ngược lại.
Xin góp lời cầu nguyện cho tất cả
những người anh em - kẻ mất người c̣n -
sẽ phù hộ cho nhau và được nh́n nhau ngày một
rơ hơn với tấm màn vô minh buông xuống.
Trần
Kiêm Đoàn