ĐẠO-PHẬT và HIỆP-SĨ M

Bùi Thế Trường

buithetruong@khoahoc.net

01 tháng 03 năm 2007

Nguồn gốc ở www.khoahoc.net

Hai kiếm sư nổi tiếng:            Takeshi Kitano bên trái không mù,

    Tadanoba Asano bên phải coi như

Nói về Hiệp sĩ mù, mà không phải là hiệp sũ mù, mới là Hiệp sĩ mù.

* Không phải là Hiệp sĩ mù, nghĩa là cách đây hơn 2650 năm, sau những mùa an cư, Đức Phật đi hành hóa về hướng Tây Bắc, và cuối mùa thu năm ấy, Bụt về tới Savatthi. Trên đường đi khất thực, vào một buổi sáng nọ, Rahula là đứa con trai của Bụt, cũng trong đoàn người đi khất thực, di hành phía sau và cách xa Bụt, bỗng dưng đánh mất chánh niệm. Chú tiểu Rahula bỗng nhiên lại nghĩ đến chuyện khác. Chú nghĩ, nếu Bụt không đi tu, thì bây giờ không biết Bụt đang làm gì và mình đang làm gì? Rồi trí hồi sinh của chú tiểu trở lại về Bụt, lúc Bụt mới chào đời, thì có một đạo sĩ đến và bảo rằng sau nầy Bụt sẽ đi tu, và trở thành một vị vua có quyền hạn trên tất cả các vị vua trên hoàn vũ. Và như thế thì chính ta sẽ làm gì?  Thế nên, từ hơi thở, đến dáng đi, vì không được an trú trong chánh niệm, nên chú tiểu Rahula không còn trong dáng diệu trang nghiêm và uy nghi nữa. Thế mà, lạ lùng thay, Bụt đi trứơc và cách xa Rahula đi cùng chiều với Bụt, mà lại biết tất cả mọi việc của Rahula. Bụt dừng bước và quay lại. Cả một đoàn cũng dừng bước quay theo Ḅut.

-         Này Rahula, con có theo dõi hơi thở và duy trì chánh niệm không?

Rahula cúi đầu im lặng.

Bụt dạy: Muốn an trú trong chánh niệm thì phải kiễm soát hơi thở một cách có ý thức. Ngay cả đi khất thực, phải thực tập thiền hành. Khi đi, ta có thể quan sát mọi vật vô thường, và sự hiện hữu của mọi vật là do trùng trùng duyên hợp mà thành, nên chúng không có ngã gọi là vô ngã. Và nhờ thiền hành mà ta không rơi vào tình trạng thất niệm hay là mất chánh niệm.

- Rahula, vì bị Bụt rầy, nên xấu hổ và quyết tâm thực hành thiền hành cho tốt hơn.

Nói xong, Bụt quay lại và tiếp tục đi. Và mọi người nghe được lời dạy của Bụt, nên kiễm soát hơi thở và duy trì chánh niệm trong lúc đi khất thực một cách rất tinh tấn (Nhất Hạnh, 2005)

 Tại sao Bụt thấy rõ, hiểu rõ, biết rõ mọi ý nghĩa của Rahula? Khi cả hai ở hai vị trí xa cách nhau và trên cùng một hướng?

 **  Một ví dụ khác do Thiền sư Nhất Hạnh, (2005), cứ mỗi buổi sáng Bụt đi khất thực tại thành Savatthi. Nhưng buổi sáng hôm nay đường phố lại vắng tanh. Bụt đứng trước nhà thường cúng dường cho Bụt, và chờ một lúc lâu, nhưng không ai mở cửa. Bụt tiếp tục đi nhà ở kế bên. Bổng nhiên cửa nhà mở, và người chủ nhà vội vă kính mời Bụt vào nhà và đóng cửa khóa chặt lại. Rồi kính thưa:

-        Bạch Sa môn, đi đường hôm nay rất nguy hiểm, v́ có một tên sát nhân tên là Angulimala, xuất hiện và hạ sát rất nhiều người. Khi hạ sát xong nó chặt ngón tay người bị giết chết làm xâu chuổi đeo vào cổ. Nó định giết tới 100 người, v́ nếu được 100 lóng tay của 100 người, th́ nó nghĩ nó sẽ đạt được quyền lực của bùa chú to lớn ghê lắm. Đặc biệt, nó giết người chớ không cướp giật của cải. Phía chánh quyền nhà vua Pasenadi cho điều động quân đội, cảnh sát bao vây và truy nă nó.

-         Tại sao cần đến quân đội và cảnh sát?

-         V́ tên sát nhân nầy vơ nghệ cao cường lắm. Có 40 người đàn

ông không đủ sức đánh nó. Phần lớn đều bị bỏ sát và một ít chạy thóat. Có lần một tóan cảnh sát tới 20 người có trang bị vũ khí, vây bắt nó, duy chỉ c̣n 2 người bị thương trốn thóat chạy về.V́ thế, dân chúng kinh sợ, không dám đi ra đường, buôn bán hay làm ăn ǵ được cả, kính thưa Sa môn.

Nghe xong, Bụt cám ơn gia chủ, về việc cho biết về Angulimala, và giă từ ra đi. Ra ngoài ngỏ, Bụt thấy rõ con người Angulimala như hắn ta đang đứng trước mặt Bụt, hắn ta rất tàn ác, rất dã man, nhưng con người nầy nếu được dạy trở thành người tốt được, và Bụt muốn cứu hắn ta, cứu hắn ta là cứu nhiều người khác khỏi chết vì hắn và giúp hắn ta trở thành con người lương thiện. Chủ nhà nài nỉ Bụt ở lại, v́ quá nguy hiễm cho bản thân của Bụt, nhưng không được. Bụt phải đi khất thực như mọi hôm để giữ vững niềm tin của mọi người.

 

Đang đi thong thả trong chánh niệm. Bụt nghe tiếng chân chạy đuổi phía sau Bụt. Bụt vẫn thản nhiên và không hốt hoảng. Vẫn đi từng bước chậm răi, an nhiên, ư thức những ǵ xăy ra trong tâm và ḥan cảnh của ḿnh. Bụt nghe tiếng Angulimala gọi từ sau vọng tới:

-         Ông sa môn! Đứng lại!

Bụt không đứng lại. Bụt vẫn chậm răi đi.

Bụt nghe tiếng chân của hắn ngừng chạy và đang rảo bước theo Bụt, nghĩa là kẻ sát nhân ở gần cạnh Bụt. Trong tay Bụt chỉ c̣n có chiếc b́nh bát bằng đất và đôi nấm cơm trong đó, không có chi hết để tự vệ. Bụt biết Angulimala ở bên cạnh Bụt, lại có đeo khí giới giết người: một chiếc mã tấu còn dính máu khô. Nhưng Bụt vẫn ung dung bước đều đặng coi như không có ǵ xăy ra. Tất cả đều là không đối với Bụt. Tên Angulimala đang đi ngang hang với Bụt. Bụt nghe anh ta quát tháo:

-        Ta đă bảo Ông đứng lại, tại sao Ông tiếp tục đi mà không chịu dừng?

Bụt vẫn không dừng lại, tiếp tục đi, vừa đi vừa đáp:

-        Angulimala, ta đă dừng từ lâu rồi, chỉ có anh mới chưa chịu dừng lại mà thôi.

 Angulimala giựt ḿnh. Im lặng môt lúc. Đầy ngạc nhiên. Ông sa môn nầy nói cái ǵ lạ thế? Ông ta đă dừng lại đâu nào? Chân Ông ta vẫn c̣n bước, thế mà Ông ta bảo Ông đă dừng lại.  Phải hỏi cho ra lẽ. Nghĩ như vậy, hắn ta phóng tới phía trước, chận đường đi của Bụt.

 Bụt dừng lại. Người đưa mắt nh́n Angulimala. Mắt người hiền ḥa, và sáng như sao. Hắn ta chưa bao giờ thấy ai trầm tĩnh, uy nghiêm, và thản nhiên như thế. Phần lớn, hầu hết nhiều mọi người mất cả b́nh tỉnh, sợ hăi và chạy trốn trối chết khi đối diện với hắn. C̣n Ông thầy tu nầy xem ḿnh như kẻ không ra ǵ. Và ông lại biết ḿnh, và gọi đúng tên ḿnh. Lạ thật. Ông tỏ vẽ không biết sợ, mà lại điềm đạm, ung dung và nh́n thẳng vào mắt ḿnh bằng con mắt thật hiền ḥa và sáng chói. Tại sao lạ vậy, hắn ta cất tiếng hỏi:

-         Hồi năy, ông nói ông đă dừng lại trong khi chân ông bước,

điều đó có nghĩa là sao? Ông nói tôi chưa chịu dừng lại, điều nầy có nghĩa là ǵ? Ông nói đi?

 Bụt bảo:

-  Những hành đông gây đau khổ cho chúng sanh, là ta đă dừng lại từ lâu rồi. Ta đă học được hạnh bảo vệ sự sống cho con người và tất cả loài sinh vật.Trong tất cả các loài sinh vật, kể cả ḷai người, loài nào cũng muốn sống và sợ chết.  V́ vậy ta phải có ḷng thương yêu. Đem t́nh thương yêu ấy đến muôn loài và bảo vệ sự sống cho chúng

 

-Bụt dịu dàng thêm: Này, Angulimala, ta biết anh từng đau khổ và chính con người làm anh đau khổ. Con người có khi rất ác độc. Ác độc v́ đầy si mê, v́ u minh, v́ hận thù, v́ tham dục và v́ ganh tị. Nhưng con người lại có khi rất hiểu biết, rộng lượng, tha thứ và rất từ bi. Tất cả các vị khất sĩ của ta cũng phát tâm bảo vệ sự sống muôn loài và đồng thời tự diệt trừ hận thù, si mê và tham dục nơi chính họ. Angulimala, ở đời cũng có kẻ ác nhưng cũng có kẻ hiền từ. Đạo ta chuyển hóa kẻ ác ra kẻ hiền. Hận thù là con đường nên tránh. Anh đang đi trên con đường ấy. Nên dừng lại thôi Angulimala.  Hăy chọn con đường hiểu biết, tha thứ, từ bi và có t́nh thương mà đi.

Được nghe giọng nói hiền ḥa và đầy t́nh thương, hắn ta nh́n Bụt. Thấy gương mặt Bụt đầy nhân hậu, làm cho tâm hồn hắn thay đổi ḥan ṭan. T́nh thương và ḷng từ bi của hắn đă mất từ lâu, bỗng bừng sống dậy một cách mãnh liệt. C̣n cái tâm ác độc giết người của hắn lại biến mất. Môt con hổ dữ ăn thịt người, bây giờ trở thành con mèo con dễ thương. Ngay khi đó, hắn cảm kích nhận rơ ràng rằng, vị sa môn nầy không có hận thù, ḷng đầy t́nh thương, mà thiên hạ ca tụng và tôn xưng là Phật.

Hắn ngước đôi mắt tṛn xoe nh́n Bụt và ấp úng thưa:

-         Thầy có phải là sa môn Gotama đó không?

-         Bụt gật đầu. Không nói chi cả. im lặng nh́n hắn.

-         Tôi đă giết nhiều người. Bây giờ có muốn dừng lại cũng không được. Quá trể rồi. Họ không tha mạng sống của tôi đâu.

-   Bụt bảo: Đừng nghĩ vậy, Angulimala. Dừng lại trên con đường hận thù và giết chóc là một điều tốt nhất trong tất cả điều tốt. Biển đời tuy mênh mông, nhưng nếu biết quay đầu lại là nh́n thấy được bến bờ.

-         Nhưng người ta không để cho tôi yên.

-    Đức Phật đưa tay nắm lấy tay hắn và ôn tồn nói: Angulimala, ta sẽ bảo vệ cho anh, nếu anh nguyện làm lành, lánh dữ, siêng năng học đạo, sám hối lỗi lầm, và phục vụ cùng giúp đở mọi người. Ta thấy anh là kẻ thông minh. Hiểu được điều ta muốn nói. Anh sẽ thành công trong bước đường hướng thiện.

Angulimala liền quỳ xuống trước mặt Bụt. Anh cởi dao đeo bên lưng, cầm hai tay và đặt xuống đất. Rồi sụp lại sát đất dưới chân Bụt. Xong laị khóc nức nở. Vừa khóc lại vừa nói:

-  Con nguyện hối cải, làm lành, quyết tâm theo Bụt học hành từ bi. Con cúi xin Bụt cho con làm đệ-tử của Bụt.

   Bụt gật đầu.

 

Angulimala được làm lễ phát, được hướng dẫn về thiền tọa, khất thực, và thiền hành. Sau một tháng, Angulimala hoàn ṭan lột xác và trở nên một vị khất sĩ có tướng tụng và tướng mạo rát uy nghi và đẹp đẻ, và ai cũng gọi là tỳ keo Ahimsaka.

Một buổi sáng nọ, Bụt cùng 50 vị khất sĩ vào thành Savatthi khất thực, trong đó có cả Ahimsaka. Đến cửa thành, Bụt gặp vua Pasenadi cùng tướng lănh, quân đội và cảnh sát đang hành quân lùng bắt Angulimala. Nh́n thấy Bụt, vua vội vàng xuống ngựa, đến chào hỏi Bụt.

Bụt hỏi lại vua:

- Đại vương, có biến cố ǵ mà vua thân chinh hành quân vây?

- Thưa Thế Tôn, Trẫm hành quân để vây bắt tên sát nhân Angulimala. Đây là tên sát nhân nguy hiễm vô cùng, hiện tại đang ở Savatthi, mà dân chúng th́ sợ nó đến mất tinh thần, c̣n cảnh sát vẫn chưa t́m tông tích của nó.

- Nhưng giă dụ, tên sát nhân đó phát nguyện không sát sinh, sống đạm bạc, tôn trong sự sống của muôn ḷai, th́ bệ hạ có t́m bắt nó nữa không?

- Thưa thế Tôn, nếu nó theo Bụt xuất gia, giữ giới, có đời sống phạm hạnh cao như các vị khất sĩ, th́ trẫm không bắt hắn mà tới đănh lễ và cúng dường y áo, thuôc men.

  Bụt đưa tay chỉ dại đức Ahimsaka, đứng sát sau lưng Bụt, và nói với vua:

-         Đại vương, đây là Angulimala, đă xuất gia, trở thành khất sĩ, sống đời phạm hạnh, chừng một tháng nay.

 Quốc vương Pasenadi thấy hắn và sợ dựng tóc gáy.

   Bụt nói:

-   Đại vương đừng sợ.  Khất sĩ Angulimala bây giờ hiền hơn cụt đất. Và bây giờ là đại đức Ahimsaka.

Vua nh́n đại đức một lúc lâu, và tiến tới mà nói: xin đại đức Ahimsaka cho phép trẫm cúng dường y-áo, thuốc men.

Vua trở về đứng trước mặt Bụt, và thưa:

- Bạch đức Thế Tôn, đạo đức của Thế tôn thật là mầu nhiệm. Những bạo động không giải quyết bằng quân đôi hay cảnh sát, th́ Thế tôn giải quyết được hết chỉ bằng đức độ của Thế tôn. Trẫm xin ghi ơn công đức của Thế tôn. Trẫm xin giă từ.

 

*** Rồi bắt đầu từ thế kỹ thứ 3 sau Tây lịch, cách đây 18 thế kỹ, Ngài Thế Thân là em của Ngài Vô Trước, có viết một quyển Tam thập luận, sau khi thụ huấn với Bồ Tát Di lặc ở cỏi Thiên, mà bây giờ được hiểu là Duy thức luận: trong đó nói về tâm pháp. 

Vậy Tâm ph́ap là gi?

  Tâm ph́ap gồm có tám thứ: 

            8- A lại da thức (thức thứ 8)

            7- Mạt na thức (thức thứ 7)

            6- Ý thức (cái biết của ý (thức thứ ̉6)

            5- Thân thức

            4- Thiệt thức

            3- Tỹ thức

            2- Nhĩ thức

            1- Nhãn thức

 Trong năm loại chia ra làm hai phần: bốn ph̀ần trên thuộc hữu vi: Tâm ph́ap ̣(có 8 món); Tâm sở hữu ph́ap (c 51món); Sắc pháp  (có 11 món); Tâm bất tương ưng hành pháp (có 24 món). Còn phần thứ năm thuộc vô vi : Vô vi ph́ap (có 6 món).Tổng cộng: (100).

 A- Trong tâm ph́ap có 8 món: từ số 1 đến số 5 gọi là tiền ngũ thức ̣hay năm căn thô phù (thức ở ngoài). Trong tiền ngũ thức nầy có hàm chưá năm căn tinh tế, phân biệt, mới phát sinh ra thức. Khi năm căn hợp với sắc trần như sắc, thinh, hương, vị, xúc thì phát sanh ra năm cái biết gọi là năm thức. Gồm có:

1-     Nhãn thức: khi con mắt rọi vào sắc trần sanh ra hiểu biết cảnh vật, thì đó gọi là cái biết của mắt.

2-     Nhĩ thức: tương tự gọi là Cái biết của tai

3-     Tỹ thức: tương tự gọi là Cái biết của mũi

4-     Thiệt thức: tương tự gọi là Cái biết cùa lưỡi

5-     Thân thức: tương tự gọi là Caí biết của thân

và:

6-     Ý thức; Cái biết của ý

7-     Mạt na thức: Thức thứ bảy

8-     A lai da (gia) thức: thức thứ tám

B- Tám thức trên rất tự tại và tự chủ, nên còn gọi là Tâm vương.

Cần nói rõ hơn, năm thức trên thức nào cũng chỉ biết và hoạt động trong phạm vi của nó, cũng không thể thay thế cho thức khác để phân biệt cảnh vật khác. Như con mắt không thể tha thế tai để nghe tiếng được. Tai cũng không thể thay thế cho mắt đ̣ể thấy cảnh đươc̣.

 Duy chỉ có Thức, không cần hiện diện hay thường trú tại mắt, tai mũi, lưởi, thân, trái lại Thức lại thường hằng lui tới đến năm thức trên, giúp cho chúng phát sanh hiểu biết nghe thấy vv... Và một việc quan trọng nữa là, năm thức trên thì không có phân biệt, hay hiểu biết, thấy là thấy, nhìn là nhìn có thế thôi; và khi có thức tham dự vào liền khởi phân biệt hiểu biết. Thấy là thấy thế nào, nghe là nghe cái gì, âm điệu ra sao, đoán người nói là ai, còn nếu nếm là nếm để biết muì vị , cay  đắng, ngọt buì vv  .Đây là điểm quan trọng cần lưu tâm trong qúa tr̀inh học về Duy Thức học.

 Ví dụ cụ thể hơn: Khi xem tranh hay xem hoa cảnh. Thoạt đầu, thấy cả hai như thường, không đẹp hay xấu. Nhưng khi có ý thức vào, biết cái nào đẹp cái nào xấu, đẹp ra sao? Và xấu thế naò? Khi nghe tiếng ca hay hát của ai, không để ý, không nghe rõ, đến khi để ý, là lúc có ý thức tham dự vào, thì cái biết về nghe là chắc chắn thuộc loại bài ca gi? ai là ca sỉ đang ca hát, giọng hát ra sao, giống như Hồ trường An phê bình trong “chân dung những tiếng hát” hay không?. Kết luận: Ý thức tác dụng vào năm thức, làm cho năm thức biết, nghe, hiểu, thấy rõ ràng và phân biệt chúng cũng rõ ràng. Ngược lại, không có thức tham dự vào thì mọi vật là mọi vật.

 Tại sao lại có những phân biệt rõ ràng như vậy? Trong tất cả năm thức trên, đều có hai phần: 1) thấy, nghe, biết, vv gọi là năm căn và 2) lại nhờ thức nên có công năng là phân biệt như đã phân tách ở trên, ở phần hai nầy, được gọi là “Ý căn”. Rồi các đối tượng ở ngoài được năm thức dự vào tương ứng gọi là năm Trần. Mà pháp là những gì có thấy, nên năm thứ trên có tên mới gọi bây giờ là “pháp Trần”. Ý căn hợp với pháp trần sanh ra Ý thức.

Suy rộng ra là sự hiệp của năm căn với năm trần và ý căn với pháp trần, tạo thành mười tám giới. Viết lại: 6 căn+ 6 trần+ 6 thức =18 giới. Chi tiết biểu đồ như sau:

            1. Nhãn căn đối với Sắc trần thành Nhãn thức

            2. Nhĩ căn    +  Th́inh trần thành Nhĩ thức

            3. Tỹ căn     +  Hương trần thành Tỹ thức

            4. Thiệt căn +  Vị tần thành Thiệt thức

            5. Thân căn +  Xúc trần thành Thân thức

            6.  Ý  căn     +   Pháp trần thành Ý thưc.

 

            Tổng cộng: 6 căn + với 6 trần +       6 thức.  = 18 giới

 

 SẮC PHÁP           TÂM PHÁP

Vậy sắc pháp là gì? Nhìn hình trên ta thất sắc pháp gồm ̉6 căn hợp với 6 trần, nghiã là vì chúng có hình dáng mà thành nên gọi là Sắc pháp. Còn Tâm pháp là gì? Vì năm thức không có hình dáng, mà do năm căn khởi nên phân biệt hợp thành năm thức nên gọi là Tâm pháp.

C .Tìm hiểu sáu căn, sáu trần

Sáu căn là: Nhãn căn, Nhĩ căn, Tỹ căn, Thiệt căn, Thân căn, và Ý căn. Ngoại trừ Ý căn, năm căn ̣đầu, do vật chất tạo thành, nên ai cũng thấy, bởi hình tướng của chúng hiện lộ ra ngoàì, nên chúng được gọi là năm căn phù trần.

Trong năm căn nầy, mà trong mỗi căn ví dụ để dễ nhớ gọi là có năm tế bào quang điện, năm tế bào nầy có tính cách giúp cho sự hiểu biết, phán đoán, suy luận, phân biệt, vv khi có sự tham dự của thức rọi vào, thì mọi tế bào sẽ mẫn cảm rất nhạy bén tức thì. Năm tế bào đó gọi là  năm căn Thắng nghĩa.

Đối vơí sáu căn là sáu trần.  Sáu trần gồm có: Sắc trần, thính trần, hương trần, vị trần, xúc trần, và pháp trần.

Khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần, thì mỗi căn lại phát sinh mỗi tác dụng riêng, như nhãn căn đối với sắc trần, sanh ra mỗi tác dụng về sắc, được gọi là nhãn thức. Tương tự ta có: nhĩ thức, tỹ thức, thiệt thức, thân thức, và ý thức.

Sở kiến được biết dưới tên gọi mới là sở phân biệt, là gì? Tất cả sự vật, mọi hình sắc trong vũ trụ đều không thật có, mà sở dĩ gọi là có đều là do thức biến hiện mà ra cả. Ví dụ như: núi, sông, đất, nước, là những cảnh vật bị hiểu biết phân biệt nên mới có, bây giờ được gọi dưới tên mới là sở kiến hay sở phân biệt.

 

Năng kiến hay năng phân biệt là gì?  Còn mắt, tai, mũi, lưỡi vv là thức hiểu biết phân biệt, được gọi dưới tên mới là năng kiến. Tên gọi mới của năng kiến là năng phân biệt. Nếu không có cảnh vật bị phân biệt thì không thể sanh khởi ra cái năng phân biệt. Nói một cách khác, cái hiểu biết và cái bị hiểu biết  hay cái năng phân biệt và cái sở phân biệt không thể nào rời nhau. Cả hai đều do thức mà ra, nên được gọi là duy thức.

Thức là gì? Thức là sự phân biệt, mưu toan và t́inh toán.

Thức thứ sáu còn gọi Ý-thức là g̀ì ?

1-Thức thứ sáu nầy có các đặc t́inh nổi bật: “công vi thủ, tội vi khôi”.

Nghĩa là nói về công thì thức nầy hơn ai hết; còn nói về tội lỗi thì nó lại đứng đầu. Suy nghĩ làm việc ph̀ải, nó là số một. T́inh toán làm điều ác thì không ai hơn.

2-Thức thứ sáu nầy là vua chấp: chấp ngã cũng chính nó, còn chấp pháp thì cũng chính nó nữa. Nghiã là chính nó tạo cái phù vân ảo hóa và làm đau khổ cho chúng sanh. 

3-Thức thứ sáu vì nương nhờ vào ý căn mà khởi phân biệt nầy nọ. Nên gọi là thức của ý căn, hay gọi gọn lại là Ý thức.

 4- Cảnh và thức, cái nào gây tội lỗi?

 Cảnh vật là cảnh vật, chính nó không có tội. Tất cả sự vật mà con người dính mắt vào, chính nó không có tội tình chi cả. Màu sắc cũng thế, tự nó không có tội tình chi cả. Duy chỉ có thức, là kẻ gây tội. Taị sao? Vì nhãn thức là căn đối với trần. Trong nhãn thức liền có thức đi theo. Ví như thấy bông hoa, hay đồ trang sức bằng vàng thuộc về trần, thì lúc đó thức liền tham dự vào, cho hoa nầy là đẹp, hoa kia l̀a xấu, để ý phân biệt, khen chê; còn đồ trang sức nầy mắc tiền, nảy cái ý nên muốn giữ cho riêng mình, nên lòng tham nổi lên, hay ý xấu hiện ra, đưa đến hành động xấu.    

 Thức thứ bảy hay gọi là Mạt na thức.

 1- Cái công năng của thức thứ bảy là truyền các pháp hiện hành vào thức thứ sáu. Và đưa các pháp, chủng tử và những mần xấu và tốt trong A laị gia thức. Nghĩa là nó chạy tới chạy lui giữa ý thức và A lại da thức.

 2-Đặc điểm của thức nầy là sanh diệt tương tục không gián đoạn, nên gọi là Ý căn, để phân biệt với thức thứ sáu gọi là ý-thức.

3- Nó là vua chấp ngã. Nghiã là bất cứ mọi ý nghĩ nào mà có thức can dự vào thì hơn 95% là bị Mạt na thức bát bỏ hết. Nó chính là vua của Ngã, mà ta gọi là ngã chấp. Ví dụ như nói về dân chủ, đa nguyên, đa đảng, thì Mạt na thức phùng mang bác bỏ hết, không cần biết hay hay dỡ, không tiếc thương. Theo ngôn ngử của thời đại thì thức nầy là dùng phương tiện biện minh cho cứu cánh.

Thức thứ tám là gì?

Thức nầy thường gọi là Tạng thức Tâm thức hay Bát thức gọi là A lại da thức. Đó là nơi trùm chứa mọi hột giống của tất cả các pháp.  A lại gia hay da cũng còn được gọi là vô ký. Nghiã là nơi đó, mọi chủng tử thiện hay ác đều được chứa trong nó.  Chẳng hạn như, một người trong nhiều nhiều kiếp chư được nghe nói đến Phật pháp bao giờ cả thì chắc chắn là chủng tử Phật ph́ap chưa chắc có trong  A lại da thức.  Nay được nghe nói về Phật pháp, thì ý nghĩ của Phật pháp được huân vào trong đó, thì được gọi là huân sinh. Nếu được cơ hội thì chuẩn tử ấy phát triển mạnh hơn, gọi là huân trưởng. Rồi phải chờ đủ điều kiện, thuận duyên, thì các huân trưởng mới kết tinh và nẩy nầm. Đó là cách giải thích tại sao khi ta học tới học lui nhiều lần thì  sự học hỏi mau chóng và nhớ lâu hơn mới một lần hay vừa liếc qua vì các chuẩn tử đã huân trưởng nhiều lần trong A laị gia thức. Thế nên, pháp môn Tịnh độ, pháp môn niệm Phật hay quán tưởng, cũng do từ các pháp được huân tập của A laị da thức lại phát triển nẩy mầm. Niệm Phật là nhớ mãi Đấng từ bi, và công năng hỉ xã đã huân trưởng trong A lại da thức lại được thể hiện.

Vai trò các bậc Bồ Tát.

Các bậc Bồ tát, phải chí tâm tu luyện mỗi ngày và cả nhiều đời, để không còn những ý niệm phân biệt “ vô niệm”, cũng như những ác nghiệp nơi bản ngã nghiã là đạt được cái “tâm không” và biến Ý thức đó thành “Diệu quán thức trí” và biến Mạt na thức thành “Bình đẳng tính trí”.

Khi Mạt na thức thành “Bình đẳng tính trí” và các chuẩn tử nầy lại huân tập trong A lai da thức huân trưởng lại và sinh trưởng nẩy mầm, làm cho tâm thức thêm sáng tỏ, chiếu sáng tất cả, thì thức thứ tám A  lai Da hay gia thức nầy gọi là “Đại viên cảnh trí” là khi đó hành giã khi nghĩ về ai hay cái gì cũng có thể thấy rỏ rệt về bề ngoài cũng như chiều sâu, về hình thức cũng như nội dung hơn bao giờ hết.

Những bậc tu hành đạt đạo hay còn gọi là “Chơn sư” hay các Bồ tát, A lai da thức của họ là Đại viên cảnh trí, nên dù họ ở đâu, đi đâu, về bề ngoài thì họ cũng như chúng sinh nghĩa là cũng ăn, uống, vui vẽ, chuyện trò, đi đứng, với cái tâm rất an lạc hay gọi là “tâm không”, nhưng họ vẫn biết rõ những gì sẽ xãy ra với họ hay những gì sẽ đến cho bất cứ ai. Ngay cả, khi qúi vị đến để gặp họ, lúc họ quay đầu vào vách, dù không nhìn mặt qúy vị, nghĩa là qúi vị đứng sau lưng họ, nhưng họ lại hiểu và biết rỏ những ý định của qúy vị, những điều qúi vị muốn hỏi, định làm.  Vì khi qúy vị nghĩ tới họ là những làn sóng tâm thức của quý vị chiếu vào Đại viên cảnh trí của ho, họ thấy rỏ  từng cử động, ý nghĩ, suy tư đã, đang và sẽ hiện ra rõ ràng như trên màn ảnh vậy. Hay ngược lại, khi họ nghĩ về quý vị, họ biết rỏ tâm thức qúy vị, ý nghĩ của qúy vị, tương lai qúy vị, một cách hết sức rõ ràng.

**** Thế là giải thích tại sao Đức Phật thấy Rahula nói riêng hay bất cứ các đệ tử của Phật như Ngài A nan lúc lâm nạn, dù cả hai cách xa nhau, không thể nào nhìn thấy bằng mắt trần được, Phật biết rõ Rahula đã đánh mất chánh niệm khi đang đi khất thực và cũng giải thích tại sao Đức Phật cũng đang đi, bổng đứng lại, và quay ngược về phía Rahula. Cũng như Phật đang ở tại thất, thấy A nan đi khất thực bị lâm nạn, liền sai người đi cứu A nan. Và tại sao Đức Phật lại cứu tên cướp Angulimala và biến hắn ta trở thành một người lương thiện.

***** Cách đây vào khoảng 50 năm, tại Nhật,  câu chuyện được viết về kiếm thuật in vào sách tại Nhật sau đây: Một kiếm sư đi trước, theo sau Ông gồm một số môn sinh của Ông. Một trong số đông đó là chú bé, khoảng chừng 15-16 tuổi, mang thêm dùm một thanh kiếm cho Ông. Trên người Ông có hai thanh kiếm: ngoài một lưởỉ kiếm dài còn thêm một lưởi kiếm ngắn mà Ông thường mang. Ông ta vẫn đi an nhiên, vẫn nhìn cảnh vật xinh đẹp hai bên đường, vẫn nghê tiếng chim hót líu lo chổ nầy chổ nọ, vẫn thỉnh thoảng quay ngang nói chuyện với các đệ tử của mình, nghĩa là vẫn bình thường như mọi chúng sinh. Ngược lại, Chú bé có một tâm ý khác hay muốn nói là một ác ý, chú nầy bèn nghĩ: Ông Thầy mình giỏi lắm, bây giờ ta bèn thử Ông chơi (nếu thử mà lỡ trở thành thiệt thì ra sao?).  Cậu ta rảo bước nhanh để đến gần Ông Thầy, rồi lại rút kiếm của chú đang mang dùm cho Ông Thầy mà chém từ sau tới trước vào thân Ông kiếm sư, để xem coi Ông Kiếm sư có chống đở lưỡi kiếm đó được hay không?. Nhưng Ông Thầy đi qúa nhanh, cậu bé càng theo càng thấm mệt.  Khi Ông Thầy đi chậm lại, cãm thấy vừa tầm tay, Cậu ta liền thử. Vừa mới để tay vào cáng cây kiếm, và định rút lưởi kiếm ra khỏi vỏ, thì nhanh như tia điện, Ông Thầy liền chĩa mũi kiếm của Ông ngay ngực cậu, và hỏi  cậu ta:

-         Cậu định thử chém tôi từ sau lưng tôi?

-         Cậu bèn quỳ lạy, và nói sự thật là chỉ thử xem và cuí đầu cḥiu tội với Ông Thầy.

Đó là thí dụ thứ hai trong sách kiếm thuật để nói lên khi một bực đạt đạo thì A lại da thức là Đại Viên cảnh trí của họ chiếu sáng và biết rõ mọi ý nghĩ, của mọi người dù còn là manh nha hay sẽ thực hành. Họ cũng biết rõ tương lai của từng mỗi người một.

Triết lý của kiếm thuật.

Người giỏi kiếm thuật là người phải am tường và thực hành rốt ráo về Thiền thuộc giáo lý Đại thừa của Đạo Phật?

Thời đại Kamakura là thời đại gọi là kiếm thương nghiã là thời đại thuộc trường phái kiếm thuật của giai cấp thống trị của Nhật bản. Có nhiều trường phái và nhiều trường học đã phát triển tột cùng kiếm thuật rất thịnh hành cho đến ngày nay. Như Yagiu Tagima-no-kami, không biết sanh vào năm nào, nhưng mất vào năm 1646, là kiếm sư cho các tướng quân Shôgun.  Ông Mayamoto Musashi (1582- 1642), là một kiếm sư mà còn là một họa sư rất nổi tiếng, là kiếm sư của môn phái Nitôryu tại Nhật.

Đạo Phật và kiếm thuật liên quan với nhau ra sao?

Nếu kiếm thuật của Nhật mà không có Đạo Phật làm hồn thì khó mà phát triển trở thành giai cấp thống trị của xã hội Nhật được. Hay nói một cách khác là một môn phái kiếm thuật thuộc vào loại thượng thừa của thế giới, một nghệ thuật gọi là toàn bích lạ lùng. Một nghệ thuật có thật chứ không phải chỉ có trong cine haygọi là entertainment. Tại sao lại có sự nghịch lý xãy ra giữa một bên là đạo Phật, vốn không sát sinh mà chỉ cứu độ chúng sinh khỏi kiếp luân hồi sinh tử, bên kia là kiếm thuật hễ khi lưỡi kiếm được rút ra kh̉oi vỏ, thì ắt có và đủ là phải có những cái chết rơi lả tả, những cái chết đó xãy ra nhanh hơn ánh sáng, hay tia chớp.

Theo cái nghĩ của người Nhật về kiếm thuật, là con người luôn luôn đối diện thường xuyên với cái chết, và nếu chết cũng chỉ một lần, chỉ một lần thôi, nên không được rụt rè. Bởi vì trong Đạo Phật có nói: các pháp đều do duyên hợp mà thành. Thân xác nầy cũng do duyên hợp mà ra.

Nếu được luyện với một tâm vững chắc, họ xem cái chết tựa như lông chim. Các kiếm thuật được huấn luyện vấn đề sống và chết rất dứt khoát, như một chiến sĩ tại trận địa: “Đi thẳng tới, đừng nhìn lại” hay

                        Dưới ngọn kiếm đưa cao

                        Dù địa ngục đáng sợ

                        Hãy bước tới thì cực lạc trong đây

                                                           Suzuki.

Tại sao? Tất cả nghệ thuật kiếm thuật cao độ của người Nhật có được là nhờ Công của Thiền sư Takuan (1573-1645) là một con người vĩ đại đã đem triết lý Phật giáo đặc biệt là Thiền Tông vào nước Nhật, vào thời đại Tokugawa và biến triết lý Thiền đó thành một nghệ thuật hết sức cao siêu. Không những cao siêu trong phạm trù kiếm thuật mà còn trong những phạm trù khác như là đạo đức, thẩm mỹ và luôn cả tư tưởng và trí tuệ.

Họ đã hiểu rõ làm thế nào đạt đến chân lý tối thượng: Chân lý không phải do lý trí suy luận mà có, bởi vì do suy luận là nói đến ngã, và bởi vì tất cả những gì xuất phát từ lý trí hay từ ngã, cũng đều mang đến những phù du ảo hóa, cũng đều mang đến nhiều chia lià, đau thương.

Kiếm thuật của người Nhật khước từ mọi chân lý qua ngã lý trí, đó là một khước từ khi người Nhật đã hiểu và cưu mang tất cả triết lý Thiền tông Phật giáo Đại thừa. Đó là một sự khẳng định mọi Chân lý tuyệt đối đều phải xuất ph́at do trực giác nơi tâm, gọi là như thị như thị, nơi cái gọi là uyên uyên hay Như lai tạng trong triết lý Phật giáo Đại thừa. Đó là yếu tính quan trọng mà Thiền sư Takuan đã áp dụng Thiền vào kiếm-thuật và đã mang đến nhiều sự thành công ngoài sức tưởng tượng.

Vô niệm nơi Phật giáo Đại thừa là gì?

Vô niệm là đặc tính của Thiền, mà đặc sắc của sự đốn ngộ do từ vô niệm. Đó là một trong ba môn giải thoát là: không ̣(sỹnyatà) vô tướng (animitta) và vô tác (apranihita).  Đối với Thiền, chứng được vô niệm là chứng được giải thoát.  Ngài Lục tổ Huệ Năng giải thích: giáo pháp Thiền từ trước đến nay, dù Đốn hay Tiệm, đều lập Vô niệm làm tông, Vô tướng làm thể, Vô trụ làm gốc. Vậy Vô tướng là gì? Là lià mọi tướng. Vô niệm là gì? Là lìa mọi niệm là không niệm.

Vô trụ là gì? Là không bám trụ vào nơi nào, là bản tánh của niệm.

Lại nói là Vô, vậy thì Vô là vô cái gì?  Niệm là niệm cái gì?

Vô là lià kh̉oi hai tướng, các trần lao, nghĩa là dứt khoát bye bye nhị nguyên (dualism) mà trở về nhất nguyên thể (monism).

Niệm là khởi lên từ Chân như là một cái niệm không tạp niệm. Chân như là thể của Niệm. Niệm là dụng của Chân như. Niệm khởi từ Chân như, dù Niệm tuy có thay đổi ít hay nhiều nhưng Chân như thì không nhiễm vạn cảnh, thường thường tự tại. Có thể ví như sóng và nước. Sóng là cái dụng của nước. Nước là bản thể của sóng. Sóng có thay đổi, nhưng bản thể của nước vẫn là bất biến.

Bởi “Vô niệm” nên “Vô tướng”. Bởi “Vô tướng” nên “Vô trụ”. Vì Vô trụ nên không bị dính mắc. Chính vì không dính mắc nên đầy quyền biến.

Chân lý cho kiếm thuật là học làm sao cho đạt được đến chổ đó.

Khi người kiếm thuật luyện tập và đạt được vô tướng, vô niệm hay vô trụ rồi, thì họ cần phải đạt đến một nghệ thuật cuối cùng đòi hỏi người kiếm thuật cần có là một trực giác động nhưng mà bất động. Bất động là cái tâm bất động. Bất động nhưng tâm lại hướng đủ khắp mọi nơi cần thiết. Hướng mọi nơi nhưng lại không động. Như trục xe không quay nhưng gọng xe thì quay. Bởi vì nếu tâm động, nghĩa là còn lưỡng lự, còn suy nghĩ, còn đắn đo, còn ở phạm trù nhị nguyên đối đãi daulism, thì sẽ bị địch thủ sẽ đánh gục ngã ngay. Ra chiến trận, đừng bao giờ có một cái tâm bất động dù cho nhỏ xíu, để kẻ thù có dịp may nào làm chủ tình hình và giết mình dễ dàng như thế. Còn động là thế nào? Là phải thường xuyên theo dõi ngọn kiếm trong tay kẽ địch, giữ tâm trí hoàn toàn không, cũng không có bất cứ một sự đắn đo suy nghĩ chen vào.  Mình di chuyển khi đối phương chuyển động và công và thủ không rời nhau gang tấc, luôn luôn theo thế công, đừng để trong giây phút nào gián đoạn cả, như thế là khuất phục được đối phương. Mỗi bước chân xê dịch là đúng vào thế tấn của thế đứng, vững chắc, có sức nặng ngàn cân.Từ đó, lưỡi kiếm chém vào đối phương, nhanh mạnh ngọt và chính xác như ch̉e sắt. Đừng để đối phương làm chủ tình hình mà mình phải chủ động.

Mình chủ động, với tâm không còn chút tạp niệm nào, dù cho khoảng cách giữa hai tạp niệm đó cách nhau bằng một sợi lông. Không tạp niệm là yếu tố sinh tử trong kiếm thuật của người Nhật cũng như của Thiền. Không những tâm không còn chút tạp niệm nhỏ nhoi nào, nghĩa là phải luôn luôn bất động liên tục. Trái lại, nếu tâm dao động và đắn đo, thì chính ta sẽ bị địch hạ.

Trong Đạo Phật, khi A lại da thức của các Bật Bồ Tát đạt đến Đại viên cảnh trí, thì tất cả các sinh hoạt của các Ngài là vô trước, vô niệm, vô trụ, thong dong tự tại.

 

Trở về trường hợp của Hiệp sĩ mù, vì là Hiệp sĩ mù đạt được “Đại viên cảnh trí” nên Hiệp sĩ mù biết hết và biết trước các đối thủ định làm gì, lúc nào chém Ông ta, đứng từ đâu chém tới, khoảng cách thế nào, gần hay xa. Lại phối hợp với kỹ thuật về kiếm thuật ở mức độ thượng thừa, từ thế đứng tấn của đôi chân, sự chuyển chân đi trong thế tấn liên hoàn với sự thủ và công không rời nhau gang tấc, Hiệp sĩ mù luôn luôn rất điềm nhiên, không mảy mai dao động.. Rồi một trực khởi của tâm hiện ra, nhanh hơn tia chớp, thanh gươm đã ra khỏi vỏ, chưa đầy một sát na, địch thủ bị chém chẻ đôi, rồi xoay trái phải, cả hai địch thủ đều giẫy chết khi thanh kiếm của họ chỉ vừa đưa lên chưa kịp chém xuống, còn kẻ địch sau lưng, khi định rút gươm chém từ sau tới, Hiệp sĩ mù không cần quay đầu lại phía địch thủ, Ông đâm ngược mũi kiếm ra sau, địch thủ chết ngay khi tay đang cầm thanh kiếm đưa cao mà chưa kịp chém xuống.

Rồi Hiệp sĩ mù rút lưỡi kiếm  dính đầy máu, tra vào vỏ, tiến đi tới trước, không quay lưng lại để nhìn chiến trường, với một dáng đi hết sức bình thản, an nhiên, không có gì đã xãy ra, với cái tâm vô niệm, vô trụ, và vô tướng như tiếng chuông chùa tại Tokyo ngân vang trên bầu trời trong xanh trên xứ Phù tang.

 

Hiệp sĩ mù không phải là Hiệp sĩ mù nghĩa là do một kiếm sư đạt đến qủa vị thượng thừa trong kiếm thuật, nên họ tạo thêm thần thoại cho kiếm sư đó như là một người mù, người mù với tài múa kiếm tuyệt luân trong thiên hạ. Nếu không hiểu ít nhiều về Đại thừa Phật giáo, thì liền nghĩ Ông Hiệp sĩ mù nầy có tài nghe gió kiếm, nghiã là nghe hơi gió của một lưởi kiếm vừa rút ra, Ông biết ngay người rút kiếm đó ở đâu, ví trí nào đối với Ông, Ông ta liền lấy kiếm của Ông mà đở rồi tiêu diệt kẻ đó ngay. Hay là thêu dệt đủ điều với óc nhiều tưởng tượng cho người Hiệp sĩ mù tài ba nhất thiên hạ. Nghĩa là nếu Hiêp sĩ mù tu luyện đạt được Đại viên cảnh trí thì họ luôn luôn làm chủ chiến trường, vì họ biết rõ về địch nhưng địch thì không biết họ, nên trăm trận đều trăm thắng.

Tuy nhiên, Đạo Phật là Đạo từ bi, cứu người thoát kh̉oi bể khổ, nên không có chuyện sát sanh huống chi là giết người. Giết người thì làm sao có được Đại viên cảnh trí? Cái nghịch lý là ở chổ đó.

 

Thế nên, không phải là Hiệp sĩ mù mà là một kiếm sư không mù có thật, Ông đã hiểu và hành về Thiền ở một mức độ cao, gọi là ngộ đạo nên mới đạt được những đường kiếm tuyệt luân, Ông không mù gì cả, đường kiếm của Ông thuộc hạng thượng thừa, đóng vai mù để làm phim, làm DVD, nên mới nói Không phải là Hiệp sĩ mù mới là Hiệp sĩ mù.

Ai cũng rất thích xem Hiệp sĩ mù.

BÙI THẾ TRƯỜNG

Sydney 10-02-07