Giải nghiệp, giải thực,
giải hoặc:
Đường đi của
Phật tử Việt
Hoàng Nguyên Nhuận
Nh́n theo
quan điểm lư và sự, đâu là con đường tu
hành của Phật tử trong hoàn cảnh hôm nay?
Làm thế nào để
tu hành vừa có lợi cho ḿnh, vừa có lợi cho đồng
bào và đồng loại?
Nhưng trước hết, theo đạo
Phật, thế nào là tu ?
PHẬT GIÁO KHÔNG PHẢI LÀ TÔN GIÁO
Đạo Phật là con đường
Thích Ca Mâu Ni từng đi để thành Phật, và khuyến
khích thế nhân tự thắp đuốc lên mà đi để
t́m ra ư nghĩa của cuộc đời.
Người Tây phương dùng chữ
Bouddhisme hay Buddhism để chỉ đạo Phật,
cũng như Judaism hay Judaisme để chỉ Do Thái giáo,
Christianism hay Christianisme để chỉ Ky-Tô giáo, Catholicism
hay Catholicisme để chỉ Công giáo hay Ky-Tô giáo Vatican,
Protestantism hay Protestantisme để chỉ Thệ Phản
giáo hay Tin Lành giáo, Islamism hay Islamisme để chỉ Hồi
giáo.Tất cả đều giống nhau ở tín điều
về một Thượng Đế và sự lệ thuộc
của con người vào Thượng Đế đó.
Nhưng trong truyền thống Tam giáo, đạo Phật
cũng như đạo Lăo và đạo Khổng không phải
là những ISME hay ISM theo nghĩa đó,
nhất là đạo Lăo ráo riết tránh ngôn từ tranh biện
và hệ thống hóa tư tưởng đến độ
cực đoan.
Đạo Phật cũng có một
vũ trụ quan tuy đơn sơ nhưng lại rất
hiện đại, nhất là quan niệm vô thủy vô chung
của vũ trụ và thời gian, và quan niệm về những
chuyển biến chủng loại, nhưng cơ bản,
đạo Phật cũng như đạo Khổng là những
nhân sinh quan về bản chất và ư nghĩa đời
người và những quan niệm về cách thức tổ
chức quốc gia xă hội xă hội để thành đạt
ư nghĩa hay mục tiêu nhân sinh đó.
Cho nên, để tránh ngô
nhận, có lẽ nên nói đến Đạo Phật thay
v́ Phật giáo. V́ gọi đạo Phật là Phật
giáo như một ISM hay ISME tức là vô t́nh đồng hóa
đạo Phật với những tôn giáo cho rằng vạn
vật, kể cả chúng sinh và riêng nhân loại, là do một
đấng tối cao toàn thiện toàn chân toàn mỹ trên
thiên đàng tạo ra. Tín điều này cho rằng đấng
toàn năng tạo ra những cái tốt đẹp nhất,
nhưng không giải thích tại sao đấng toàn năng
này lại tự dưng bày ra những cái xấu xa tồi
tệ nhất như hỏa ngục, động đất,
tsunami, thánh chiến, tàn phá môi sinh, bom nguyên tử, ḷ hơi
ngạt, vi khuẩn HIV, vi khuẩn cúm gia cầm... và bao
nhiêu điều tàn ác khác mà vật thụ tạo của
đấng toàn năng đó có thể tưởng tượng
ra. Đại diện của đấng toàn năng ở
trần gian là những giáo chủ với những giáo triều
độc quyền giữ ch́a khóa thiên đàng và mọi
định lệ sinh hoạt, kể cả giáo lệnh
thiêng liêng rất thánh về thuốc ngừa thai
và bao cao su.
Từ sau vụ 11/9/2001 ở Mỹ
đến nay, nhân loại phát sốt từng cơn v́ nguy
cơ thánh chiến giữa Hồi giáo với Do Thái giáo,
Công giáo Vatican và một vài hệ phái Tin Lành. Nguy cơ này dần
dần thế chỗ chiến tranh ư thức hệ tàn lụi
khi Bức Tường Sắt đổ nhào theo
Bức Tường
Cũng bởi v́ không chấp nhận
một đấng tối cao theo nghĩa tôn giáo nên một
thời đạo Phật đă bị tố cáo là vô thần,
theo ngôn ngữ thời thượng ‘vô thần Cộng Sản’,
khiến cho một số Phật tử hoặc không dám nhận
là theo đạo Phật mà chỉ nhận là theo đạo
ông bà.
Mặt khác, cũng v́ ngộ nhận
đạo Phật là một tôn giáo tôn thờ một đấng
tối cao trên thiên cung như thế nên một số Phật
tử mới loay hoay bắt chước thiên hạ biến
chư Phật, chư Bồ Tát thành Phạm Thiên hay Ngọc
Hoàng Thượng Đế với cung vàng điện ngọc
rập theo khuôn mẩu thiên cung theo trí tưởng tượng
của các nghệ sĩ Tây phương để làm vừa
ḷng các giáo chủ ham mê xa hoa quyền quư. Phật
từ bỏ địa vị Thái Tử và ngai vàng trong
tương lai không phải là để làm vua, khoan nói là vua
của các vua. Trong truyền thống đạo Phật,
cũng như đạo Khổng, đạo Lăo, không hề
có chuyện thay v́ gọi kẻ đứng đầu một
tôn giáo là giáo chủ, trưởng lăo, giáo phụ, tổ,
tăng thống... th́ người ta gọi vị đó là
‘giáo hoàng’, nghĩa là hoàng đế của vương quốc
tôn giáo như Công giáo Vatican.
GIẢI NGHIỆP
Phật tử là người có tâm
nguyện theo đạo Phật,
nghĩa là nương theo con đường Phật đă
đi qua.
Người Việt đa số vẫn
nghĩ ở đời muôn sự của chung,
hay ngàn muôn năm âu cũng thế ni. Hay nói
như nhà bác học Lavoisier, chẳng có ǵ diệt, chẳng
có ǵ sinh. Thành trụ hoại không chỉ
là biến tướng của nghiệp. Nghiệp là nguồn của mất c̣n sinh diệt,
nghiệp là nguồn của trầm luân đau khổ.
Con đường Phật đi là con
đường dẫn ra khỏi nghiệp đạo. Con
đường Phật đi là con đường dứt
nghiệp, chuyển nghiệp để đoạn ĺa tái
sinh, để ra khỏi cái ṿng sinh diệt, cái ṿng mất
c̣n có không. Chuyển
được nghiệp là thoát được luân hồi,
dứt được nghiệp là dứt được
luân hồi.
Hai điểm đặc thù bất
nhị của đạo Phật là thứ nhất, con
người có thể tự ḿnh ra khỏi xa lộ một
chiều sinh diệt, và thứ hai, con người có thể
làm được chuyện đó ngay trong kiếp này, ngay
trong cuộc đời hiện tại. Bằng
cách nào? Bằng 84.000 cách, nghĩa là có đến 84
ngàn bảng chỉ đường, hay 84 ngàn cách đi!
Giữ năm giới
nghe đă nặng, huống nữa là 84 ngàn giới.
Cho nên, dù số 84.000 là một con số tượng
trưng ví von chăng nữa th́ cụm từ ‘tám vạn bốn
ngàn pháp môn’ cũng đủ làm gây chới, vừa tạo
tuyệt vọng vừa gây hi vọng.
Trong rừng pháp trùng
trùng mênh mang ấy, làm sao khỏi lạc? Cuộc tranh
luận cần cù lau gương sáng giữa Thần Tú và Huệ
Năng, hay mẩu đối thoại khai tâm giữa sơ
tổ Bồ Đề Đạt Ma và Huệ Khả
đă đem lại một hi vọng cho người
đang chới với trước rừng pháp. Hi vọng
của một đồ tễ nháy mắt buông dao. Hi vọng
của con đường trung dung vô cầu, làm mà không bám
vào thành quả, tu mà không bám vào chánh quả, hành mà không bám vào
phước đức, giác ngộ bằng cách cùng giác ngộ
với kẻ khác, như người trên thuyền, muốn
đến bến th́ cùng chèo với kẻ khác, chèo cho kẻ
khác trên thuyền. Nh́n theo quan điểm trung dung vô cầu
đó th́ trong hoàn cảnh hôm nay, con đường tu tập
và hành đạo của các hàng Phật tử cũng có thể
tóm lược vào ba điểm, đó là giải nghiệp,
giải thực và giải hoặc.
Tam giáo đồng hành.
Đạo Phật và đạo Khổng là những
hệ thống tư tưởng chuẩn bị cho con
người vào đời và ở đời một cách có
ư nghĩa và có trách nhiệm, trong khi đạo Lăo chuẩn
bị cho con người ra khỏi cuộc đời mà
không tiếc nuối hay bất măn oán hận. Quan niệm duyên nghiệp của đạo
Phật chú trọng vào cách con người đến với
đời. Quan niệm tam cương ngũ
thường của đạo Khổng chú trọng vào con
người ở đời và quan niệm vô vi của
đạo Lăo chỉ cách cách rút lui khỏi cuộc đời.
Dù truyền thống Việt Nam là ‘tu
đâu cho bằng tu nhà’ hay ‘tu nhà tu chợ tu chùa’, nhưng
xuất gia là lối tu hành gắt gao nhất, đ̣i hỏi
một quyết tâm cao, được coi là lư tưởng
nhất, chắc ăn nhất. Chính quyết
tâm này tạo nên giá trị của người xuất gia.
Chính quyết tâm giữ Ba La Đề Mộc
Xoa đă biến hàng xuất gia thành một trong ba báu vật
tối thượng của Phật tử. Và dĩ
nhiên chư tôn túc tăng ni cũng hiểu
rơ xuất gia hay tu chùa là tự nguyện chứ không phải
là một t́nh nguyện hi sinh như kiểu đi kháng chiến,
đi làm cách mạng, đi làm việc thiện hoặc
đi nghĩa vụ quân sự. Phải hiểu
rơ điều đó để khỏi sai lầm trong sự
nghiệp pháp thí, đức thí cho hàng Phật tử sơ
cơ.
Đă tâm nguyện
theo Phật không thể không nhớ nếu Phật cũng
ưa nhàn hạ thong dong thanh nhàn th́ xong 49 ngày đêm nhập
định thành công, Phật cứ đi tuốt về Niết
Bàn cho yên thân. Hoặc nếu Phật cũng
nghĩ ai làm ǵ mặc ai ḿnh lo tu thân ḿnh trước đă,
th́ sau sau khi giác ngộ và tiếp đó là 21 ngày đêm
trăn trở tiến hay lùi, nhập hay xuất, hay ít ra
sau thời pháp đầu tiên cho U Ba Ca về nghiệp lực
và giải nghiệp, hay sau thời pháp thứ hai kế tiếp
cho năm anh em đồng chí cũ Kiều Trần Như
về Tứ Diệu Đế và Bát Chánh Đạo, Phật
cứ ngồi một chỗ nhờ họ chạy vạy
kiếm tiền xây chùa và chờ đàn na tín thí đến
dâng cúng cái ăn, cái mặc, cái ở để Phật khỏi
phải hàng ngày ôm b́nh bát lặn lội t́m về thế
nhân để bố giáo suốt 45 năm? Cho nên,
Phật là một kẻ lữ hành nhập thế chứ
không phải lánh xa phồn hoa đô hội để trốn
nợ đời. Đă lên đỉnh
cao để ‘trường khiếu nhất thanh hàn thái
hư’ rồi th́ phải trở về phồn hoa vinh nhục.
Đă nhảy qua bờ giác th́ cũng phải
nhảy trở lại bờ mê để độ những
kẻ c̣n mê. Trong cương vị một vị thầy,
một tấm gương sáng.
Phật
không tu dùm cho ai cả. Phật không
tự nhận là đấng cứu thế và cũng không
ra điều kiện cho bất cứ ai nếu chịu nhận
Phật là đấng tối cao th́ sẽ được
đương nhiên lên Niết Bàn. Phật
là kẻ đă đi, đă đến, và Phật chỉ
đường cho mà đi, chỉ đích cho mà đến,
khéo tu th́ nổi vụng tu th́ ch́m. Phật không có quyền
bắt ai xuống địa ngục v́ không chịu nhận
Phật là Phật, v́ không chịu rửa tội theo Phật.
Con đường Phật đi là
con đường t́m đến thế nhân để cho
và nhận. Cho giáo pháp và nhận
thực phẩm, áo quần, thuốc men, nơi trú ngụ.
Phật là kẻ tay làm hàm nhai đúng với
nguyên tắc bất tác bất thực. Bởi
v́ thường xuyên dấn thân vào đời nên những
điều Phật dạy luôn thiết thực, cập nhật,
sống động và rất có lư và rất người.
Do đó mà ngay sau khi Phật niết bàn, kỳ kiết tập
thứ nhất do A Nan chủ tŕ chỉ chú trọng vào luật
và kinh. Bao nhiêu năm sau Luận tạng mới
được triển khai. Bởi thánh
chúng cũng đă hiểu ư Thầy chú trọng đến
những ǵ thiết thực, cập nhật và sống
động, để làm chứ không để nói, ta làm
được ḿnh làm được chứ không phải
đợi thành thánh rồi mới làm mới giữ.
Con đường
Phật đi là con đường hành động, chứ
không dậm chân tại chỗ. Trên con đường
vừa đi vừa tu, đi không biết bao giờ đến,
tu không biết bao giờ thành đó, những người
có tâm nguyện theo Phật chỉ có thể
nói ḿnh đang LÀM Phật tử, chứ không dám chắc ḿnh
đă LÀ Phật tử. Làm đến đâu hay đến
đó, quư hồ là quyết chí làm và quyết chí tu. Trên con đường đó, Phật tử
gặp chính ḿnh, gặp tha nhân và có duyên may th́ gặp
được những người đă đến
đích, như những đệ tử của chư Phật, chư Tổ thời quư ngài
c̣n tại thế.
Vô cầu là con đường tự
giác nhi giác tha. Bởi lư, có
xác thân là có trú sở, có trú sở là có quê hương tổ
quốc. Hành vô hành, tu vô cầu là bí quyết làm Phật
tử, quyết sống cho ra người của Phật tử
Việt Nam, nhất là trong những thời kỳ nhiễu
nhương cần chung sức đoàn kết để cứu
cá nhân ḿnh, cứu gia đ́nh, cứu quê hương. Phật tổ cũng là Phật tổ Hồng
Bàng thị như thi sĩ cách mạng Nguyễn Quyền
trong phong trào Duy Tân ngày xưa từng nói. Trong lúc
sơn hà nguy biến thời Ngô, Đinh, Lê, Lư, Trần, Hậu
Lê hay thời kháng chiến chống thực dân, người Phật tử, sáng tụng kinh
trưa ra trận, chiều sống sót trở về,
cơm nước xong, tối tụng kinh đi ngủ
để ngày mai tiếp tục... Đó
là nhịp sống và chiến đấu đặc thù của
Phật tử Lư, Trần, Lê.
Phật tử vẫn tự hào đạo
Phật là đạo của bảy, tám mươi phần
trăm công dân và có lúc nào thống tâm tự hỏi sao bảy,
tám mươi phần trăm ấy có thể để cho
những vụ như vụ Năm Cam hay PMU 18 xảy ra
không? Chư tôn túc tăng già, thân
chính cũng như đối chính, đă có một cảnh
giác nào về những vụ này không hay chỉ đợi
cho Năm Cam bị xử tử rồi làm lễ cầu siêu, và các ṭng phạm ở
tù rồi mới làm lễ cầu an?
GIẢI THỰC
Trong bài Gia Tài Của Mẹ, Trịnh
công Sơn đă tóm lược số phận bang giao quốc
tế của Việt
Trong thời hiện
đại, cha ông chúng ta đă phải mất đúng 30
năm để hoàn thành tâm nguyện giải thực.
Và nếu tính từ lời hịch Văn Thân
Cần Vương th́ mất đúng 101 năm. Đúng là
không có ǵ quư hơn độc lập tự do.
Năm 1975, người
Việt chấm dứt được thực dân cũ
để rồi phải tiếp tục đối phó với
nạn thực dân dân mới có tên là bá quyền, là cấm vận.
Thời gian chống thực dân mới này
cũng xấp xỉ bằng thời gian chống thực
dân cũ.
Sau ba mươi năm chiến tranh ư
thức hệ hay chiến tranh chính trị để rồi
vừa lần ṃ thử thách kinh tế tập sản, vừa
chống đỡ nạn thực dân mới, đất
nước đang dấn thân vào vận hội mới kinh
tế thị trường toàn cầu mà WTO, WB, IMF, Quota xuất
khẩu... là những mật ngữ của thần chú hiện
đại hóa, hội nhập...
Nguyện ước của Chủ Tịch
Hồ chí Minh là tranh thủ độc lập tự do
để xây dựng một tổ quốc giàu đẹp.
Nhưng Hồ Chủ Tịch không hề khẳng định
giàu đẹp sẽ được tính bằng số triệu
phú, tỷ phú, số nhà cao tầng hay số xe
hơi tính theo đầu người hoặc theo hộ. Giàu đẹp ở đây là giàu đẹp của
tâm thức bầu ơi thương lấy bí cùng.
Giàu đẹp của một xă hội b́nh đẳng trong
đó hố ngăn cách giàu nghèo giữa các cá nhân, hộ,
vùng và miền đất nước sẽ được
rút ngắn, những thành phần bất hạnh thiệt
tḥi sẽ được chiếu cố, những người
già, phụ nữ, trẻ con và những người có gia
đ́nh sẽ được chăm sóc nâng đỡ.
Tiến bộ là đi từ đói
cơm rách áo lên cơm no áo ấm rồi ăn
ngon mặc đẹp. Câu hỏi đặt
ra không chỉ là làm thế nào mà c̣n để làm ǵ? Bởi kiếp người đâu chỉ là giá áo
túi cơm. Thế trị trả lời
câu hỏi đầu. Đạo, tôn giáo
hay sơn môn trả lời câu hỏi thứ hai. Bởi lư, sống hạnh phúc là mục tiêu của
đời người nhưng sống hạnh phúc cũng
là điều kiện để hoàn thành ư nghĩa của
đời người là giác ngộ, là giải thoát. Xem nhẹ mục tiêu hậu cơm áo ấy là lạc
hướng.
Xin hăy nh́n vào trường
hợp
1. Người dân
2. So với 10 năm trước, dân
Australia không chỉ càng ngày càng giàu, mà càng có học hơn và
tuổi thọ trung b́nh cũng tăng 3 tuổi cho đàn
ông và 2 tuổi cho đàn bà.
3. Hố ngăn cách giàu-nghèo, chủ-thợ
ngày một sâu rộng. Hạng giàu nhất chỉ
đông bằng 1% dân số nhưng chiếm đến 9% lợi
tức quốc gia. Trong thập niên 1992-2002, mức
lương bổng trung b́nh đồng niên của giới
chủ và đại diện cho chủ tăng 396% [từ A$715.566 lên 3.550.000] trong khi lương bổng
trung b́nh của công nhân chỉ tăng 37%.
4. Tiền bạc tăng, mức mập
ph́ cũng tăng. Số đàn ông phệ tăng từ 52%
lên 62%, đàn bà từ 37% lên 45%. Mức tội
ác gia tăng, số phận thổ dân vẫn hẩm hiu,
sông hồ bị ô nhiễm, môi sinh ngột ngạt.
Tính theo đầu người,
5. Song song với mức độ bất
b́nh đẳng, mức bần tiện cũng gia tăng với
cảm nghĩ chung bốc hốt
được ǵ th́ bốc hốt, miễn đừng
vượt quá phạm vi luật pháp. Người giàu nhất
6. Giàu có hơn, sống lâu hơn, béo
mập hơn, có học hơn nhưng cảm thức về
thoải mái hạnh phúc th́ không hề thay đổi suốt
50 năm qua, nghĩa là người dân Australia hôm nay không thấy
ḿnh sướng hơn ông bà cha mẹ ḿnh nửa thế kỷ
trước ở chỗ nào.
7. Nói về t́nh cảm thoải mái hạnh
phúc hay sung sướng, cuộc nghiên cứu này đă dùng 7
tiêu chuẩn để định mức đó là mức sống,
sức khoẻ, t́nh nghĩa, thành tích ở đời, an toàn, quan hệ láng giềng, và tương
lai bảo đảm. Xét theo 7 tiêu chuẩn đó th́ vùng cử
tri được xem là hạnh phúc nhất là vùng có những
điều kiện sau đây: mật độ dân số
thấp, có tỷ lệ cao về số người trên 55
tuổi, về số phụ nữ và thành phần có gia
đ́nh, mức lợi tức không quá chênh lệch, tinh thần
lân lư láng giềng gắn bó. [The Sydney Morning
Herald ngày
Từ kinh nghiệm và thành quả phát triển
của
Xin hăy dựa vào câu trả
lời thiết thực, chân chất, không chuyên môn rườm
rà của một bạn đọc của tờ Văn Nghệ
strong số 16 ngày
Một vài ví dụ vừa kể không
những thiết thực cho những nhà chiến lược
phát triển kinh tế mà cho cả những ai nghĩ rằng
Bát Chánh Đạo, Lục Ḥa, Tứ Nhiếp Pháp là
phương thức giảm xóa những bất b́nh đẳng
và mâu thuẩn xă hội để thăng tiến hạnh
phúc nhân sinh là điều kiện giác ngộ giải thoát.
Đây là điều sơn môn không thể không biết
đến và nếu v́ lư do nào đó không thể dấn thân
vào phồn hoa vinh nhục th́ cũng phải khuyến thỉnh
và tạo điều kiện cho hàng ngũ giảng sư,
các thành phần dấn thân vào Phật sự giáo dục và
thiện nguyện, các Phật tử tại gia đủ
các ngành nghề tiếp sức với thế quyền trong
mục tiêu lục ḥa đó.
Trước đây, ở
Việt
Đă đến lúc người Phật
tử nh́n vào một thực tế là trong khi thế giới
đang nh́n Phật pháp như một lối thoát cho những
bế tắc thời đại th́ một số quốc
gia đại đa số dân chúng là Phật tử cũng
đă và đang gặp phải những tế tắc khủng
hoảng dai dẳng hay để cho các tôn giáo khác tung hoành
thao túng như Sri Lanka, Nepal, Myanmar, Thái Lan hiện nay, hoặc
Hàn Quốc sau chiến tranh Nam Bắc 1950-1953, Đài Loan sau
khi chính quyền Tưởng giới Thạch tái phối
trí trên ḥn đảo này hay Campuchia thời Pol Pot. Phật tử
và sơn môn tại những quốc gia vừa kể có
trách nhiệm ǵ về t́nh trạng đó không, tại sao
đa số công dân của các nước đó theo đạo từ bi, ḥa b́nh, giác ngộ mà
đất nước lại rơi vào những khủng
hoảng đen tối như vậy?
Phật tử Việt
Nam có đi ngược tinh thần nhập thế bố
giáo của Phật khi lẩn quẩn ở nơi thị tứ
để làm chùa to Phật nhỏ hay đi show quan hôn tang tế
trong đó mỗi thời kinh, mỗi khóa lễ đều
có giá để rồi vô t́nh giao cao nguyên, giao các vùng ven biển
hay nông thôn nghèo khó và Miền Bắc cuồng tín lạc hậu
cho thiên hạ mặc sức bóp méo vo tṛn bằng những
tín điều huyền hoặc huyễn mị. Mặt
khác, có những Phật tử viện những lư do thế
trị để trùm chăn đợi
cho đến khi có dân chủ tự do đă mới bắt
tay vào Phật sự. Dân chủ là mộ
phương thức hữu hiệu để vận động
quần chúng tham gia đóng góp công sức vào những việc
lợi ích cho gia, nhưng trong khi vận động dân chủ
th́ cũng phải biết đặt câu hỏi tự do
dân chủ để làm ǵ? cho ai? Hậu quả là suưt nữa họ đă đồng
lơa mở cửa cho
GIẢI HOẶC
Về phương diện
công quyền cũng như tư doanh, guồng máy càng lớn
th́ tội phạm càng lớn, guồng máy càng lớn th́ vai
tṛ ư thức cá nhân càng quan trọng. Cách
chống lại sai trái và tội phạm hữu hiệu là
triển khai đạo đức cá nhân, khuyến thỉnh
cá nhân làm tốt, bất chấp ư thức hệ, bất chấp
chính trị.
Trong cơn sốt hội nhập kinh
tế thị trường, người ta có thể lầm
tưởng rằng kinh tế thị trường hay kinh
tế toàn cầu là một rừng rú phi đạo đức,
chỉ có năng xuất, tổng sản lượng, lợi
nhuận là đáng kể. Nói thế khác, đạo
đức là chuyện lạc hậu. Nước
Mỹ là nước giàu nhất thế giới, mang công
mang nợ nhiều nhất thế giới. Nước Mỹ cũng là nước có nhiều
tỷ phú nhất thế giới. Trong
100 người giàu nhất th́ Mỹ chiếm hết 36.
Và hai người giàu nhất nước Mỹ và cũng
là giàu nhất nhân loại là William Gates 50 tuổi của
công ty Microsoft với $US50 tỷ, và Warren Buffett 75 tuổi của
công ty bảo hiểm Berkshire Hathaway với $US42 tỷ tài sản,
đă bỏ ra một người 29,2 tỷ [Gates] một
người 37 tỷ [Buffett] không phải để mua thị
trường kiểu Australia mua thị trường nông phẩm
Iraq, hoặc để mua phiếu vào các cơ quan công quyền,
hay để chạy án mà để chống nghèo đói, chống
bệnh tật trong các nước nghèo, nhất là chống
HIV, sốt rét rừng, ho lao, hoặc để cấp học
bổng cho học sinh nghèo hiếu học, đẩy mạnh
giáo dục tin học hay phát triển thư viện công cộng
ở nội địa Mỹ. Nước
Mỹ mang tiếng là rừng rú tư bản nén bạc
đâm toạc tờ giấy nhưng cũng là nước
nuôi dưỡng được những áp lực đạo
đức đủ mạnh để bỏ tù Phó Tổng
Thống [Spiro Agnew] và bắt Tổng Thống phải từ
chức [Richard Nixon] hay nửa đường đứt
gánh công danh [Lyndon Johnson].
Đứng sau thế
giàu mạnh của Mỹ là Trung Quốc. Chính quyền
Trung Quốc đang phải quay về đạo đức
truyền thống để tự cứu, sau gần một
phần tư thế kỷ cất cánh và sau khi đă tử h́nh hàng năm khoảng 10.000
người đa số v́ tội tham nhủng, trốn
thuế, ăn cắp xăng dầu [theo báo The Independent
ngày 8/11/2005] nhưng Trung Quốc vẫn lao đao bấn loạn
v́ nạn bất công xă hội, tham nhủng, hối mại
quyền thế, cách biệt biệt giữa thiểu số
có quyền có của và đa số tay làm hàm nhai. Thông tấn
xă AP loan tin, ngày
-Yêu thương chứ
không làm hại tổ quốc,
-Phục vụ chứ không sách nhiễu nhân dân,
-Đề cao khoa học, chứ không chịu dốt nát mù
quáng
-Hăng say lao động, chứ không lười biếng,
ngại khó ngại khổ
-Tương thân, giúp đỡ nhau, chứ không v́ lợi mà
hại kẻ khác
-Liêm khiết và tín nghĩa, chứ không để lợi lạc
mê ám lương tri
-Kỷ luật và tôn trọng luật pháp, chứ không hỗn
loạn phi pháp
-Sống đạm bạc và phấn đấu không ngừng,
chứ không ngụp lặn trong bùn nhơ xa hoa khoái lạc.
Bích chương vĩ
đại ghi tám điều này đă được trưng
bày chót vót trên quảng trường Thiên An Môn, không nhắc
ǵ đến Khổng Mạnh mà cũng chẳng nói đến
những lời dạy của lănh tụ Mao trạch
Đông hay Đặng Tiểu B́nh như thường lệ.
Ngôn từ chính trị quanh co lắc léo không đi vào ḷng
người, không đi vào tim óc lớp
trẻ tương lai của đất nước nữa.
Phải nói thật, nói thẳng, trắng
đen rơ ràng.
Nói đến giải hoặc ư thức
hệ hay tôn giáo, không những phải nhớ đến những
quá đà hụt hẩng ư thức hệ như tiến
nhanh tiến mạnh tiến vững chắc, mà cũng phải
nhớ đến chuyện Việt Nam từng điêu
đứng v́ hai tôn giáo độc thần huynh đệ.
Công giáo thời Pháp và Tin Lành - Công giáo thời Mỹ. Ngày
xưa những tôn giáo này đến Việt Nam bằng tàu
chiến, súng đạn, ngày nay rắp ranh phục hoạt
bằng bùa chú nhân quyền, dân chủ, tự do tôn giáo và kinh
tế thị trường.
Năm 1954, Vatican đưa vào Nam trên
700.000 tín hữu làm chủ lực cho một cuộc chiến
ngót 20 năm không những để tiêu diệt ư thức hệ
‘cộng sản vô thần’ mà tiêu diệt cả những
tôn giáo ‘vô thần’ như đạo Phật. Ngô đ́nh Diệm
với chiến dịch Nước Lũ năm 1963, Nguyễn
văn Thiệu với Sắc Luật 23/67 đập tan
Giáo Hội PGVNTN với sự đồng lơa của chư
vị hôm nay vẫn c̣n tại thế như quư HT Tâm Châu và
HT Hộ Giác, đang đồng ca bản Liên Tôn với những
kẻ quyết thà mất nước không thà mất
Vatican.
TẠM KẾT LUẬN - MỘT
VÀI ĐIỀU CẦN XÉT
Quá tŕnh hiện đại hóa đạo
Phật khởi từ những năm 1930, cụ thể là
cuộc vận động cho b́nh đẳng tôn giáo và bảo
vệ tín đồ năm 1963, đạo Phật bất
đắc dĩ tự đặt cho ḿnh một trách nhiệm
thế trị nặng nề là góp phần vận động
độc lập quốc gia, ḥa b́nh dân tộc và cách mạng
xă hội.
Độc
lập, ḥa b́nh thống nhất đă hiện thực, Phật
sự trước mắt là vận dụng tín đồ
gánh vác trách nhiệm thế trị như một công dân
để góp phần vào cuộc cách mạng xă hội
đúng với tinh thần Lục Ḥa và Tứ Nhiếp Pháp. Cho nên, muốn nhắm mắt
lo chùa ḿnh thôi, lo cho đệ tử ḿnh thôi cũng không phải
là dễ. Mà mở mắt ra th́ chắc thế nào chư tôn túc cũng thấy và nghe sáu ước
nguyện này.
Đạo Phật Việt
Đạo Phật đề cao khế
cơ khế lư, nhưng khế cơ khế lư không phải
là tu dùm, mà phải tạo điều kiện và khuyến
khích mỗi người tự tu, tự làm tṛn trách nhiệm
công dân, tham gia các sinh hoạt thế trị. Cụm
từ ‘làm chính trị’ không phải là điều húy kỵ.
Trong ư thức tự giác nhi giác tha, chủ trương một
người v́ mọi người của Xă Hội chủ
nghĩa là một lư tưởng thế trị, không phải
là điều đáng sợ mà là điều đáng có,
đáng xiển dương. Phật tử tại gia
cũng như xuất gia có quyền và có trách nhiệm tham
chính hay đối chính quyền tùy cơ duyên. Nhưng hợp
tác phải cho ra hợp tác, đối lập phải cho ra
đối lập v́ hai lư do.
1. Chế độ nào cũng cần
có một ư thức hệ để cai
trị. Việt Nam không c̣n trông chờ ǵ vào ư thức hệ
của Nga hay Trung Quốc, trong khi tư tưởng của
Chủ Tịch Hồ Chí Minh bắt nguồn từ hứng
khởi yêu nước chứ không phải ư thức hệ.
Tinh thần Lục Ḥa và Bát Chánh Đạo cũng như
dân tộc tính của đạo Phật và truyền thống
ḥa hợp cộng tồn của Tam Giáo sẽ là ṇng cốt
cho một ư thức hệ Việt Nam. Ư thức hệ
đó, hợp với tinh thần tự giác nhi
giác tha hay Phật pháp bất ly thế gian pháp, không đối
nghịch với tinh thần Xă Hội chủ nghĩa mà
đề cương chính yếu là một người v́
mọi người.
2. Hễ khi nào người Việt
đi đúng đường hướng dân tộc th́
thành công, khi nào hấp tấp chạy theo
người ngoài th́ thế nào cũng không tránh khỏi cập
lụy tiêu cực. Hồn thiêng sông núi đang
c̣n nên trong số những thành phần hữu trách
đương quyền, không thiếu ǵ người thấy
được điều đó, nhờ vậy mới có
cởi trói, mở cửa, đổi mới, hiện đại
hóa. Các hàng Phật tử đương nhiên ủng hộ
những cố gắng làm cho chính quyền đến gần
với quần chúng, làm cho người Việt lưu vong gần
với quê hương, và làm cho đạo Phật với
chính quyền gần nhau hơn trên căn bản dựng
nước và giữ nước và nhắc nhở nhau tránh
được những sai trái, có thể làm giảm hiệu
năng của một chính quyền của dân, do dân và v́
dân.
Đạo Phật không
nhất thiết đ̣i phải được công nhận
như quốc giáo. Nhưng đạo Phật
phải cố gắng biến sinh hoạt thành nề nếp
toàn quốc. Như nề nếp ăn
chay, hay quan hôn tang tế. Một số ngày trọng đại
của đạo Phật như Phật Đản, Thành
Đạo, Vu Lan, ngày Mất Nước 23 tháng Năm, ngày
HT Quảng Đức tự thiêu... phải được
coi là lễ chung. Phải có một Đại Học, một
Viện Nghiên Cứu, một Đạo Tràng có tầm cỡ
quốc gia và quốc tế và một hệ thống
thư viện Phật học toàn quốc...
II . Phật Học
Viện và đào tạo tăng tài. Pḥng bệnh hơn chữa
bệnh, công việc trang nghiêm thanh tịnh sơn môn tùy thuộc
phần lớn vào khởi điểm thường
được gọi là thu nhận và
đào tạo tăng tài. Gánh vác trách nhiệm hướng dẫn
tu học và đào tạo tăng tài là các Phật Học Viện.
Và sau đây là bốn câu hỏi được
đặt ra liên quan đến các Phật Học Viện.
Thứ nhất,
chương tŕnh tu học thiết thực giúp ǵ cho chính cá
nhân nhà tu về giới định huệ?
Thứ hai, chương
tŕnh tu học chuẩn bị ǵ cho nhà tu nhập thế hành
đạo?
Thứ ba, chương tŕnh tu học
chuẩn bị được ǵ cho lớp thanh niên Tăng
tự lực để khỏi tùy thuộc đàn na tín thí, và giúp được ǵ cho những
người nửa đường đứt gánh phải
hoàn tục có phương tiện mưu sinh?
Thứ tư,
chương tŕnh tu học giúp được ǵ cho hàng bán
thế xuất gia đă chán sự đời và muốn
quay về nương cửa Phật để tu tâm và hành
Phật sự? Nói thế khác, đối
với hàng bán thế xuất gia này, phải làm ǵ để
giúp họ hấp tu, để huấn luyện, để
tận dụng kinh nghiệm và quyết tâm của họ
vào công tác hành đạo. Chương
tŕnh này cũng cần cho những Phật tử tại gia
hữu tâm đối với Phật sự nữa.
III. Củng cố và cải tổ
sinh hoạt của Gia Đ́nh Phật Tử cho phù hợp với
tâm tư, nề nếp suy nghĩ cũng như nhu cầu
tu học của lớp trẻ hôm nay. Thanh thiếu
niên thế kỷ 21 không phải là thanh thiếu niên của
thập niên 30 thế kỷ trước là thời GĐPT
được khai sinh. Cải tổ
sinh hoạt của GĐPT cũng là một mục tiêu của
đổi mới phương cách truyền đạt Phật
pháp và hành Phật đạo như đă nói trên.
IV. Định chế hóa sinh hoạt
Phật sự của Ni bộ, cư sĩ và thành phần
bán thế xuất gia.
Các tôn giáo khác đang trăi qua cơn khủng
hoảng nữ quyền, các nữ tín hữu Thiên Chúa giáo
đang đ̣i làm Linh Mục, và mai đây sẽ đ̣i làm
Giám Mục, Hồng Y, Giáo Hoàng, trong khi các nữ tín đồ
Hồi giáo th́ đ̣i b́nh quyền với nam giới trong gia
đ́nh và ngoài xă hội. Bao giờ th́ phong trào này lan đến các Sư Bà, Sư Cô? Công lao và những hy sinh đứng đầu
gió của các tầng lớp Tỳ Kheo Ni trong bất cứ
phong trào, chiến dịch nào của Phật giáo trước
nay là điều không thể quên. Có nên để
cho họ phải mơi ṃn âm thầm chờ một A Nan tái
sinh không?
Đóng góp của thành phần cư
sĩ hữu tâm hiếu hoạt và thành phần bán thế
xuất gia trong ngót nửa thế kỷ chấn hưng và
dấn thân thế trị của Phật giáo là điều
đáng kể không phải bây giờ mà ngay cả trong thánh
chúng và các giáo đoàn nguyên thủy thời Phật c̣n tại
thế.
Anh hùng đáo vận bán quy Tăng. Có
chương tŕnh vận dụng và khuyến khích các cựu
quân nhân, các cán bộ công nhân viên và những người từng
hành nghề tư đă nợ tang bồng trang trắng vổ
tay reo tham gia sinh hoạt Phật sự, cố vấn cho
các đoàn thể Phật tử, nhất là Phật sự
địa phương của các Khuôn Hội, các Niệm
Phật Đường.
V. Phát triển và định chế
hóa hệ thống Khuôn Hội và các Niệm Phật
Đường trong khuôn khổ sinh hoạt của giáo hội
địa phương. Khuôn hội và Niệm
Phật Đường phải thiết thực tham gia quá
tŕnh tuyển chọn các cấp lănh đạo Giáo hội.
VI. Thanh lư môn hộ, trang nghiêm tăng
già. Theo nguyên tắc, đây là việc riêng của
từng tôn phái, từng chùa cũng như riêng của từng
cá nhân biết rơ khéo tu th́ nổi, vụng tu th́ ch́m. Với kẻ xuất gia, nhất là các bậc
trưởng thượng trụ tŕ, lo chuyện chùa ḿnh
đă nặng, sức đâu mà lo chùa khác. Nhưng v́
nhu cầu khế cơ khế lư mà đạo Phật phải
hiện tồn như một định chế quốc
gia nên trang nghiêm thanh tịnh cửa chùa trở thành một
trách nhiệm chung của chư tôn lănh
đạo cũng như riêng của mỗi Phật tử
được thừa hưởng tăng đức. Trách nhiệm đó đang càng ngày càng thúc bách, nhất
là khi đất nước đă ḥa b́nh thống nhất,
nhu cầu tâm linh luân đạo ngày càng gia tăng.
Tăng già là một trong tam bảo, v́
quyết tâm tu hành, v́ thành quả tu chứng, v́ tác dụng
gương sáng cho đời noi theo. V́
lư do đó, thanh lư môn hộ, trang nghiêm tăng già là điều
phải cảnh tỉnh và bảo trọng. Môn
hộ được thanh tịnh trang nghiêm tức là tạo
điều kiện cho lớp trẻ có cơ duyên quay vào
để tu tập, quay ra để gánh vác Phật sự.
Để thu hút những Phật tử
tại gia hữu tâm hiếu hoạt, cũng như để
tận dụng những thành phần bán thế xuất
gia.
Thanh lư môn hộ và trang nghiêm tăng
già cũng cần thiết v́ hạnh nguyện từ bi và tự
giác nhi giác tha nên Sơn Môn phải ‘phồn
hoa ngă bất hoài vinh nhục’ như Thái Hư Đại
Sư từng thú nhận. Nhưng hễ khi nào Sơn Môn
đi quá sát với quyền lực thế trị th́ hàng ngũ sẽ bị hăm dọa vong thân phân
hóa. Quyền lực hấp dẫn quyền lực,
thần quyền muốn lấn lướt thế quyền,
cha nhà thờ cũng muốn làm cha thiên hạ. Cách mạng Pháp 1789 là một cố gắng chấm
dứt tệ trạng đó, nhưng chưa hẳn là
đă triệt hẳn tệ trạng đó. Sơn môn
phải ư thức rơ điều đó khi tiếp cận với
thế quyền để khỏi trở thành nạn nhân bất
đắc dĩ của cả tệ trạng mượn
hoa héo để cúng Phật, lẫn tệ trạng mượn
Phật để cúng những tay tổ tham lam, gian manh, tàn
ác. T́nh trạng này đă trở nên trầm trọng hơn
nữa từ sau năm 1975 chính quyền đă sai lầm biến
tăng già thành một tập đoàn và vô t́nh tách biệt và
cô lập tăng già với quần chúng Phật tử. Viện
Tăng Thống, Viện Hóa Đạo biến thành vệ
tinh của Mặt Trận.
Để tránh t́nh trạng
vong thân phân hóa ấy, có lẽ phải chú trọng đến
hai điều.
1. Phân định lằn mức đạo
đời, sơn môn và thế cuộc. Trong phạm vi tự
viện, Tăng già là trưởng tử Như Lai khuôn vàng
thước ngọc, ngoài tự viện th́ mọi người
là công dân, mỗi người một phiếu như nhau, chứ
không phải bạ ai cũng kêu con xưng thầy! Sơn môn không phải là kẻ giữ ch́a khóa niết
bàn, cũng như đă đến lúc phải dứt hẳn
thành kiến một phiếu Tăng bằng ba phiếu Ni.
2. Sơn Môn phải hợp với
thành phần cư sĩ hiếu hoạt để tạo
điều kiện cho sơn môn khỏi phải bận tâm
về chuyện thế trị và để cho các hàng Phật
tử tại gia b́nh thường theo đuổi tâm nguyện
tu chứng tự giác nhi giác tha hay dấn thân để cùng
giác ngộ với đồng bào đồng loại.
Xuống tóc, mặc áo cà sa, treo bảng hiệu thiền thất, tự
viện, am miễu th́ cũng coi như một thành phần
sơn môn. Ai cũng có quyền tu, nhưng nếu tu không ra
tu, nếu tu trở thành một h́nh thức kinh doanh chùa to
Phật nhỏ th́ có lẽ đến một lúc nào đó
phải đặc vấn đề dẹp chùa nhỏ tạo
dựng chùa lớn, cấp độ điệp cho hàng xuất
gia và xem chuyện cúng vái dâng sao giải hạn bói toán khai
trương cầu an cầu tài của một số thầy
cúng có từ bao năm nay... là những h́nh thức kinh doanh
và phải theo đúng những quy định kinh doanh.
Không có ǵ phải lo
ngại, đạo Phật càng hưng thịnh th́ quốc
gia càng ổn định, bởi đạo Phật có lúc bị
tố là cầu an bất lực nhưng chưa bao giờ
bị lên án là bán nước hay làm tay sai cho ngoại
nhân.
Chỉ có sư tử
trùng thực sư tử nhục. Hưng thịnh hay
suy vong là tùy các hàng Phật tử, nhất là Sơn môn
tăng già, đệ tam bảo.
=============