GIẢI THÍCH
CUỘC ĐỜI
Một Quan
Điểm Phật Giáo
Nguyên bản
Anh Ngữ của Minh Tích
Minh Tích
dịch ra Việt Ngữ
(tháng 9, 2006)
Vũ
trụ là năng lực, ở những dạng khác nhau.
Căn
bản, năng lực có thể ở một trong hai
trạng thái: tiềm ẩn, hoặc hiển lộ.
Năng
lực tiềm ẩn không ở nơi nào, nhưng lại
ở khắp mọi nơi. Không
thấy nó ở đâu, nhưng nó lúc nào cũng có. Nó
không có h́nh thể, màu sắc, âm thanh, mùi vị, hay có
thể sờ mó được, cũng không phải là ánh
sáng, hơi nóng, hay ba động. V́ vậy nó không thể
cảm nhận được bằng ngũ
quan con người, không thể dùng bất cứ dụng
cụ khoa học nào để ḍ t́m. Nó là chân
không, vô tướng, nhưng lại không phải là một
ư tưởng. Nó không bị ràng buộc bởi không
gian và thời gian. Nó là tự do toàn diện và tuyệt
đối. Nó
thanh tịnh, tịch lặng, tự tại, tự
tồn. Nó có trước vật chất
và có trước thức giác. Nó không
đầy không vơi. Nó thực sự
là nguyên lư đầu tiên, là thực tại độc
nhất, là tự ngă độc nhất. Nó chỉ có thể được nhận
biết bằng trí bát nhă, một thứ trí huệ rất
cao siêu.
Trong những
điều kiện cụ thể, do chuyển động
hoặc những lư do khác, một phần năng lực
tiềm ẩn có thể khởi động và biến thành
năng lực hiển lộ, đầu tiên là ba
động, rồi sau đó là hơi nóng, ánh sáng, và từ
tính.
Tiếp
đến là vật chất và tinh thần.
Trong
thế giới vật chất, khởi thủy ta có quang
tử, neutrino, điện tử, trung ḥa tử,
dương tử, rồi nguyên tử, phân tử, tế
bào, hóa chất, khoáng chất, thảo mộc, và thế giới
động vật. Chúng là những dạng khác nhau
của năng lực tập trung. Tương quan
trực tiếp giữa năng lực và vật chất
đă được Einstein thiết lập trong
phương tŕnh nổi tiếng E=MC2, và đă
được chứng minh hùng hồn trong thực tế.
Trong
thế giới tinh thần, khoa học ngày nay chưa có
tiến bộ ǵ nhiều. Nhưng tinh thần là một
thực tế không thể chối căi được.
Thực
ra, danh từ chính xác hơn là thức. Cũng như
vật chất, thức là một h́nh thái của năng
lực hiển lộ. Nó có thể
hiện hữu độc lập với vật chất,
trong dạng một sinh vật tinh thần, hoặc nó có
thể được hợp nhất với vật
chất để tạo nên một sinh vật biết
cảm nhận bằng giác quan.
Năng
lực một khi biến từ tiềm ẩn qua hiển
lộ th́ mất đi tự do, thanh tịnh, tịch
mặc, và tự tại, và bị ràng buộc bởi không
gian và thời gian. Nói cách khác, nó có kỳ
hạn sinh tồn, và không thể ở hai nơi cùng
một lúc. Nó là một từ trường xác
định, trong trường hợp thức, hoặc
một điện từ trường xác định,trong trường hợp vật chất.
Trong
hai h́nh thái năng lực hiển lộ, nghĩa là thức
và vật chất, th́ thức dễ lưu chuyển
hơn. Nó không có
h́nh tướng cụ thể mà ngũ
quan có thể nhận biết được. Nhưng nó
vẫn có thể được phát hiện như là
một thực thể với ba động, ánh sáng, và
hơi nóng, nghĩa là những tín hiệu cảm tính.
Vũ trụ
mà ta nhận biết được bằng mắt
hoặc qua kính viễn vọng gồm có nhiều hệ
thống thiên hà tạo thành bằng vật chất, như
tinh vân, định tinh, sao chổi... và trong thái dương
hệ của chúng ta, các hành tinh và các mặt trăng soay quanh chúng. Nhưng vũ
trụ cũng c̣n có những quốc độ khác không
cụ thể như vậy mà chúng ta chưa thể
nhận biết. Những quốc
độ này là những thế giới tinh thần hay
thức.
Đi
sâu thêm vào thế giới của chúng ta, th́ có các loại
vật chất bất động, như khoáng chất, hoá
chất và thảo mộc. Chúng không có thức. Rồi ta
có thế giới sinh vật, từ các vi khuẩn, vi trùng,
qua các loài sâu bọ, cá, loài lưỡng cư, vừa
sống dưới nước vừa sống trên bộ
như rùa, rắn, các loài chim chóc, đến các loài
động vật có vú, và ở cấp độ cao
nhất, con người. Mỗi một loài
trên là sự kết hợp của vật chất,
dưới dạng ADN..., tạo thành thân xác, và thức.
Chúng có thể cảm nhận tác động
từ bên ngoài, và phản ứng tích cực lại các tác
động đó. Chúng có thể di chuyển theo ư muốn. Chúng có nhiều mức
độ thông minh khác nhau,và chừng
mực tự do khác nhau đối với ngoại
giới.
Thế
giới của năng lực hiển lộ là thế
giới của sắc, của hiện tượng. Và định
luật cơ bản nhất của thế giới này là
lư duyên sinh. Thí dụ, ánh sáng là do duyên kết hợp
của ba động, sự phát quang, hơi nóng, và các
điện tử, một nguyên tử là sự hợp thành
của một hạt nhân và các điện tử, một
phân tử là do các nguyên tử hợp thành, một hiện
tượng là sự kết hợp của chủ thể
và hoàn cảnh...Khi các yếu tố hợp thành tách rời
nhau, th́ vật tan ră, hiện tượng không c̣n nữa.
Định
luật thứ hai là sự biến dịch. Điều này
cũng dễ thấy. Khi có chuyển
động, là có sự biến dịch. Ngay trong ba động cũng đă có thể
thấy sự biến dịch trong không gian và thời gian.
Không có ǵ bất biến, và bất cứ một hợp
thành nào cũng là một sự chu
biến của các yếu tố chồng chéo, đan
kết, và tương tác với nhau.
Một
hệ luận của biến dịch là vô thường. Khi các vật luôn
luôn biến đổi, th́ chúng không thể trường tồn
bất biến, điều đó là tất nhiên. Các vật thể được tạo thành
rồi biến hoại. Chúng sinh sinh ra và
chết đi. Mỗi một nháy
mắt, biết bao nhiêu tế bào trong thân thể ta chết
đi, để được thay thế bằng
những tế bào mới. Mỗi một nháy mắt,
thức của ta thay đổi, ư tưởng và cảm
giác theo nhau và chộn lẫn với nhau
không ngưng nghỉ.
Định
luật thứ ba là luật nhân quảû. Mọi sự việc
đều có lư do, mọi sự việc
đều có thể giải thích bằng luận lư. Không có cái gọi là 'ngẫu nhiên'. Trong thế giới vật lư, ta có thể hiểu
điều đó một cách thấu đáo. Trong thế giới của thức, th́ có khó
khăn hơn. Nhưng định
luật này áp dụng cho toàn thể thế giới năng
lực hiển lộ, và thức cũng chỉ là một
trong những hiện tượng của thế giới
này mà thôi.
Con
người là sự kết hợp của hai dạng
năng lực hiển lộ, là vật chất ở
dạng cao cấp và linh hồn, hay thức, ở dạng
cao cấp. Nhưng như ta đă đề
cập, cả hai đều vô thường, nên sự
kết hợp của chúng tất nhiên cũng là vô
thường. Ta đă đề cập đến
sắc thân ta, một sự kết hợp của hàng
tỷ tế bào luôn luôn biến động. C̣n về 'linh
hồn', th́ thực ra đó là sự hợp thành của
bốn loại tích tập, hay uẩn, đó là thọ,
tưởng, hành, và thức.
Thọ là do ngũ quan của ta tiếp xúc với
ngoại cảnh mà thành. Do vậy mà ta có thể nh́n, nghe,
ngửi, nếm, và cảm giác qua da thịt. Nhưng
những cảm giác này chỉ có thể lập thành qua
thức. Khi ta bất tỉnh, th́ ta cũng không
cảm thấy ǵ cả, dù ngũ quan
của ta có bị ngoại cảnh tác động đi
chăng nữa.
Tưởng
liên quan đến lănh vực thuộc năo bộ của ta,
bao gồm tiến tŕnh suy tư, tri thức, và sự
tưởng tượng. Tưởng thuộc thức
thứ sáu, gọi là ư.
Hành là lănh
vực liên quan đến ư chí, ước vọng, ham
muốn, quyết tâm của ta, kể cả những hành vi phát xuất từ đó. Cho nên khi một
người sát nhân, trộm cắp, dối trá... th́
trước hết y phải có ư muốn, ước
vọng, hoặc quyết tâm thực hiện ư tưởng
đă. Hành nằm trong thức thứ bảy, gọi là
mạt na thức, hoặc ư thức
về tự thân.
Yếu
tố cuối cùng của bốn uẩn thuộc về tâm
là thức, hay cấp độ thứ tám, cấp
độ vũ trụ. Đó là kho tàng chất chứa
tất cả chủng tử cho mọi hiện
tượng. Nó là cái vốn liếng chung
cho cả thế giới tinh thần lẫn giác quan. Nó cũng là kho năng lực từ đó phát sinh
ra vật chất.
Thế
giới giấc mơ là một lănh vực riêng biệt. Những giấc mơ
thường là những ước vọng thầm kín
của ta được thể hiện qua năo bộ
để đem đến sự thỏa măn hư ảo
về cảm giác mà không có sự nhận biết hoặc
tham dự của ngũ quan. Chúng cũng
có thể là nỗi sợ, sự bất an... được
thể hiện qua các biểu tượng tâm linh. Chúng cũng có thể là các thức khác đến
viếng thăm ta. Chúng cũng có thể
là linh cảm về những chuyện sắp xảy ra
dưới dạng các biểu tượng phức
tạp. Những giấc mơ là sản phẩm
của thức thứ bảy, tiềm thức cá nhân, hay
mạt na thức, hoặc thức thứ tám, tiềm
thức vũ trụ, hay a lại da thức,thức
này truyền đạt các tín hiệu đến thức
thứ bảy, và thức này giải mă các tín hiệu
dưới dạng các h́nh ảnh mô phỏng kinh nghiệm
sống thật ngoài đời.
Luật
nhân quả cũng áp dụng trong lănh vực tinh thần y
như trong lănh vực vật chất. Mọi việc làm
của ta, hoặc ngay cả ư tưởng muốn làm
đi nữa, làm thành nghiệp của ta, nó sẽ ảnh
hưởng đến ta ngay trong kiếp này cũng như
trong các kiếp sau.
Cái tiềm
thức cá biệt, hay thần thức, là lư do khiến ta
nghĩ là ta quả là một thực thể hiện
tồn, có đặc tính riêng, và mọi vật quanh ta
cũng quả là hiện hữu. Và tất cả lại
được nối tiếp đến một h́nh thái
ngă cao hơn, nghĩa là Đấng Tối Cao, toàn năng,
bao gồm tất cả mọi hiện hữu, là
Đại Ngă trong đạo Bà La Môn, hoặc Thượng
Đế trong các tôn giáo khác.
Thực ra,
tầng cao nhất là A lại da
thức, là tổng cộng tất cả năng lực
tiềm ẩn đă biến thành năng lực hiển
lộ trong toàn vũ trụ. Nó siêu việt ư thức về
ngă, dù tiểu ngă hay đại ngă trong thế giới
hạn hẹp của thái dương hệ chúng ta.
Thân xác của
ta, hay sắc, và bốn uẩn c̣n lại, hay tâm, không tách
rời nhau và độc lập với nhau, mà
tương tác với nhau và ảnh hưởng qua lại
với nhau. Do đó mà ngă thức lưu giữ tất
cả các ước vọng,cảm
nhận và kư ức do các giác quan thâu nhận, ngay sau khi nó
đă rời bỏ xác thân v́ tử vong. Nhưng
ngă thức lại không tạo nghiệp mới
được mà chỉ có thể trả nghiệp đă
tạo mà thôi.
Vũ trụ
bao gồm hàng tỷ thái dương hệ, mỗi một
hệ thống đều phăi trảơi qua bốn giai
đoạn biến hóa, đó là thành, trụ, hoại, và
không, hoặc sinh, trụ, dị, và diệt. Mỗi
hệ thống bao gồm vật chất và tinh thần.
Những thứ mà ta nhận biết
được đều nằm trong một trong ba giai
đoạn đầu, thành, trụ, hoặc hoại.
Nhưng ta không thể thấy giai đoạn
thứ tư, nghĩa là không, hoặc diệt. Đó
là lư do có những 'lỗ đen' trong vũ trụ vậy.
Bây
giờ ta hăy đi sâu hơn vào cơi Ta Bà của chúng ta,
cũng gọi là thái dương hệ. Cũng như
mọi thứ khác, nó quả cũng có một lúc bắt
đầu, giai đoạn thành, hoặc sinh. Và chúng sinh đầu tiên trong cơi này là một sinh
vật tinh thần đến từ một cơi khác. Và cũng như mọi sinh vật khác, sinh vật
đầu tiên này cũng muốn cơi ḿnh trú ngụ
được sinh sôi nảy nở. Và do quá tŕnh
tất yếu cùa thiên nhiên, mọi vật được
tạo thành, vật chất cũng như tinh thần.
Nhiều cơi mới được tạo lập, mỗi
cơi do một loại chúng sinh trú ngụ. Trái đất
của ta là một cơi vừa có vật chất lẫn tinh thần, hoặc
sắc và thức. Chính thức tạo cho
sắc hơi nóng, sự phát quang, từ tính, và chuyển
động.
Con
người được tạo thành bởi các yếu
tố sinh lư, thường là tinh trùng nam và trứng nữ,
và một từ trường dưới dạng một cá
ngă đang đi t́m một thân xác để được
tái sinh. Cái cá ngă này thực ra không phải là cái ǵ
trường tồn bất biến, mà chỉ là một
thực thể luôn luôn biến đổi cũng đi qua
bốn giai đoạn thành trụ hoại không, nhưng có
khả năng lưu truyền đặc tính của ḿnh
cho các thực thể tiếp nối, cũng tỷ như
tổ tiên truyền giống cho con cháu vậy.
Như vậy
ta có thể thấy cái mà ta gọi là 'ngă' thực ra không
phải là trường tồn theo đúng nghĩa, mà
chỉ là một cái 'gỉả ngă', hiện tồn
'chẳng đặng đừng', 'cho có ' vậy thôi,
nhưng để tiện bàn, ta cũng có thể tạm
cho nó là có vậy.
Trong bốn
uẩn tạo thành 'tâm', hành là thành tố quan trọng
nhất, là nguyên nhân tạo tác các hành vi đưa
đến kết quả cụ thể, theo đúng
luật nhân quả. Các hậu quả có thể thấy ngay
trong đời này, cũng y như trường hợp
một kẻ sát nhân phải chịu tội trước
pháp luật nhân gian vậy. Nhưng ngay cả khi kẻ
phạm tội có thể thoát lưới pháp luật đi
chăng nữa, th́ y cũng vẫn phải chịu hậu
quả dưới h́nh thức này hay h́nh thức khác,
hoặc trong sự sợ sệt, hoặc trong sự
chịu khổ do tai nạn mang đến. Và
nếu y chưa trả nợ trong kiếp này, th́ chắc
chắn y cũng sẽ phải trả trong các kiếp sau.
Không ai, kể cả 'Thượng
Đế', có thể cứu giúp cho y thoát khỏi
được ác nghiệp y đă tạo ra.
Khi một con
người chết đi, cái thần thức của y
rời khỏi thân xác, và ngay lập tức thân xác mất
đi hơi nóng và bắt đầu băng ră. Trong ṿng
bốn mươi chín ngày sau khi thần thức rời
khỏi xác phàm, nó sẽ được phán xét về
những hành vi đă phạm, và sẽ tái sinh ở một
trong nhiều cơi, kể từ cơi rất thanh tịnh
hạnh phúc cho đến cơi rất nhơ bẩn và
khổ đau.
Con
người là sinh vật đáng mong ước nhất
trong các loại chúng sinh. Trong cơi Ta Bà của chúng ta, con
người là sinh vật độc nhất có khả
năng cải thiện số phận của ḿnh do các thiện
nghiệp, hoặc làm xấu thêm số phận do gây ác
nghiệp mà chắc chắn sẽ đưa đến
quả báo sau này. Và v́ con người luôn luôn nhận lănh
quả báo từ các tiền kiếp, nên con người
không đồng số mệnh. Có người giàu có,
khỏe mạnh, đẹp đẽ, thông minh, hạnh
phúc, lại có người nghèo khổ, bệnh tật,
xấu xí, ngu đần, khổ sở. Có người được sống nơi thành
thị đầy tiện nghi, lại có người
phải sống nơi man di mọi rợ, thiếu
thốn mọi bề. Những thiện nghiệp mà
ta tạo trong đời này có thể giúp làm thuyên giảm
phần nào các tai họa gây ra từ
những kiếp trước, nhưng không thể hoàn toàn
cải đổi chúng được. Nhưng
những nghiệp thiện trong đời này sẽ
tạo phước nghiệp trong những kiếp sau.
Nguyên do đau
khổ có những ǵ? Có thể kể ba
loại chính, đó là tham, sân, và si.
Tham
là ước muốn thỏa măn mọi nhu cầu bản
năng, và chiếm hữu chúng cho việc thụ
hưởng sau này. Nó chính là phiền năo chướng lớn nhất
làm con người không thể thanh tịnh. Nó
luôn luôn thúc dục ta chiếm hữu và bảo vệ
những thứ mà ta cho là của ta. Nó làm ta vơ lấy thật nhiều, thật nhanh.
Nó là nguyên do đầu tiên của mọi vấn đề
của nhân loại kể từ thời thượng
cổ cho đến ngày nay và c̣n về sau nữa. Mọi
khao khát quyền lực, t́nh yêu, danh vọng, của
cải, sự bất tử,... đều bắt nguồn
từ một cảm giác thiếu thốn hoăc vật
chất hoặc tinh thần nằm sâu trong tâm thức, và
cũng bắt nguồn từ ngu si, đă làm cho nhân
loại phạm bao nhiêu là tội ác từ xưa
đến nay.
Sân là phiền
năo chướng thứ hai, là kết quả của sự
thiếu tự chế, cũng lại là một h́nh
thức của si, và có thể đưa đến
những phản ứng khốc liệt trong lời nói
hoặc hành động, với những hậu quả
đáng tiếc nhất có thể tưởng tượng
được. Biết bao nhiêu là tội ác đă phạm,
biết bao nhiêu là con người phải vào tù chỉ v́
nóng giận bất thần, ta có thể thấy nơi nào
cũng có, thời nào cũng có.
Si là phiền
năo chướng thứ ba, nhưng thực ra nó lại là
cái cớ căn bản và bao trùm nhất cho mọi cái khùng điên
của cuôïc đời. Nó là sự thiếu hiểu
biết về những nguyên lư căn bản nhất
của thiên nhiên, do đó là sự thiếu minh triết. Ta
phải nhấn mạnh ở đây rằng, hiểu
biết khác với thông tin. Minh triết khác
với sự tích tập bừa băi và ghi nhớ vô nghĩa
các sự kiện. Do đó, ta có thể là một nhà
đại học giả, nhưng lại chẳng hiểu
ǵ nhiều về những bí nhiệm của cuộc
đời.
Si
có thể thấy dưới nhiều dạng khác nhau.
Đầu
tiên là mạn, ḷng tự kiêu tự đại. Đó là ư thức
được thổi phồng về chân giá trị
của ḿnh. Nó thuộc về mạt na
thức, do sự kém thấu hiểu về lư duyên sinh và lư
vô thường. Như đă giải thích
ở trên, một khi nắm vững hai định luật
này, th́ ta thấy rơ, làm ǵ có cái ta thật sự. Vậy th́ bám víu vào ư niệm thổi phồng
về cái ta phỏng có ích ǵ?
Cái
si thứ hai là nghi. Khi ta không hiểu những nguyên lư
chi phối sự sống, ta sẽ luôn luôn nghi hoặc.
Ta nghi rằng liệu cuộc sống thật sự có ư
nghĩa ǵ không, có thật sự luật nhân quả trong
lănh vực tinh thần hay chăng, liệu ta có thể bao
giờ thoát khỏi khổ đau hay chăng... Nghi dẫn đến khuynh hướng hư vô,
vô chính phủ trong suy tưởng và hành động.
H́nh
thức thứ ba của si là ác kiến. Nó có năm nhánh.
Thứ nhất là thân kiến, chấp
thực sự có cái ta. Thứ hai là biên kiến,
chấp có cái ngă trường tồn, hoặc chấp
đoạn diệt, chối bỏ mọi thứ... Thứ
ba là tà kiến, ư kiến xấu ác, như là tin vào bạo
lực, vào giai cấp đấu tranh, vào sự trả
thù... để giải quyết các vấn đề nhân
sinh, hoặc tin vào sự siêu việt của một sắc
tộc này trên một gịng giống kia, hoặc các mê tín
khác... Thứ tư là kiến thủ, sự
bám giữ vào ư kiến sai lầm của ḿnh. Và thứ năm là giới cấm thủ, sự
bám giữ vào các thực hành và các cấm đoán sai lầm.
Thiếu
minh triết tất nhiên dẫn đến khổ đau,
có thể thấy dưới ba h́nh thức. Thứ nhất là hành khổ,
ước muốn thỏa măn vật chất làm ta không yên
ổn. Hai là hoại khổ, cái khổ khi nh́n
thấy những thứ ta trân quư cứ ngày một tiêu
hoại đi. Thứ ba là khổ
khổ, cái khổ con người tạo ra cho nhau liền
liền không dứt.
Nh́n từ khía
cạnh khác,ta có bát khổ, đó là sinh,
lăo, bệnh, tử, ái biệt ly khổ, yêu mà phải chia
ĺa, oán tắng hội khổ, ghét mà phải ràng buộc
với nhau, cầu bất đắc khổ, muốn mà
không được, và ngũ ấm xí thạnh khổ,
khổ v́ sự tích tập ngày một nhiều,và sự
xung đột không ngưng nghỉ của các uẩn trong
ta.
Ba phiền năo
chướng nêu trên, gọi là tam độc, làm con
người đắêm ch́m trong biển sinh tử, làm ta
không một phút nào được an vui
tự tại. Nhưng ta nên biết rằng tiềm ẩn
trong mỗi con người chúng ta là khả năng
đến được minh triết và tịch lặng. Như đă nói ở trên, năng lực tiềm
ẩn là ở mọi nơi, mọi lúc, nhưng cũng
không ở nơi nào cả. Đó là
khả năng của mỗi chúng ta chứng nghiệm
một trạng thái hiện tồn siêu thoát, đó là chân
không, có trước hiện hữu. Đó là tự do
hoàn tàn và tuyệt đối, tự tại vô ngại. Phân tích cho đến cùng kỳ lư, đó là cái làm
cho mọi chúng sinh b́nh đẳng và siêu việt. Một số người trong chúng ta cũng
đă có thể chứng được cảnh giới này
trong thoáng khoảnh khắc nào đó trong đời. Giả dụ, ta có thể hoàn toàn b́nh yên trong
giấc ngủ không mộng mị, không bị các thức
khác quấy nhiễu, không bị lo sợ hoặc nghi
ngờ dù tiềm ẩn đến đâu trong ư thức
của ta. Đây chính là sự giải
thoát cuối cùng khỏi các phiền năo gây đau khổ.
Những bậc chân nhân đời xưa
đă đạt đến trạng thái này ở những
mức độ khác nhau.
Phật
Thích Ca Mâu Ni là một nhân vật lịch sử. Ngài là bậc xuất chúng trong
cơi Ta Bà đă chứng quả Bồ Đề, hoàn toàn
giải thoát khỏi
khổ đau. Ngài đă vượt bến
bờ sinh tử, đă diệt trừ được
mọi thô lậu, và đă trở về với chân như,
hay năng lực tiềm ẩn. Ngài đă
chứng Niết Bàn, thường, lạc, ngă, tịnh.
Nhưng trong
vũ trụ vô cùng vô tận, có hằng hà sa
số Phật khác, ở hằng hà sa số quốc
độ khác, từ vô thủy cho đến nay. Tất
cả các vị Phật đó đều đă, hoặc
sẽ về với chân như, vượt bến bờ
sinh tử, có thể di chuyển tự tại vô ngại
trong mọi quốc độ, ở mọi thời gian,
bởi v́ các Ngài cùng Chân Như chỉ là một.
Ngoài ra, c̣n
hằng hà sa số chúng sinh cũng đă
vượt bến bờ sinh tử để không c̣n
bị luân hồi. Đó là các bậc A la hán,
sau khi diệt độ cũng sẽ trở về
với năng lực tiềm ẩn. Điều khác
nhau giữa các A la hán với các vị Phật là họ
không phát
nguyện cứu
vớt chúng sinh.
Các vị
Phật trải thần lực của các Ngài đến
chúng sinh qua các vị Bồ Tát, những chúng sinh phát
nguyện giúp các chúng sinh khác
đạt được an vui, cứu vớt họ
khỏi hoạn nạn hoặc buồn đau. Ta có thể
nới rộng ư niệm Bồ Tát để bao gồm
tất cả những thứ ǵ giúp ta vượt qua
hoạn nạn, dù đó là một con vật, một khúc
củi trôi nổi trên sông, hoặc ngay cả một
bản năng trong ta làm ta tránh qua tai
nạn. Những vị Bồ Tát là hóa thân
Phật.
Một trong những
vị Bồ Tát được biết đến
nhiều nhất là Quán Thế Âm Bồ Tát, biểu
tượng của Đại Bi, có thể thấy rất
nhiều trong nghệ thuật Phật giáo.
C̣n có một
h́nh thức thứ ba của Chân Như, đó là Pháp mà
Phật Thích Ca đă quán triệt và truyền dạy cho
chúng sinh sau khi Ngài chứng quả Bồ Đề. Đó
là Pháp Thân, là Lư Tức Phật, những nguyên lư hiện
hữu ngoài ư thức cũng như chi phối của con
người, gồm lư duyên sinh, lư vô thường, lư nhân
quả, lư khổ, lư không...
Do cố
gắng bản thân, Phật Thích Ca đă đạt
được Trí Bát Nhă, khiến Ngài nh́n thấy rơ
thực tướng của các pháp, khiến Ngài thấy
tính b́nh đẳng của mọi loài, khiến Ngài nói
đúng thời đúng lúc, khiến Ngài nh́n thấy toàn
vũ trụ như qua một tấm gương tṛn
đầy.
Phật Thích
Ca đă lưu truyền giáo pháp của Ngài trong hàng ngàn kinh
điển mà Ngài nói cho đệ tử xuất chúng
của Ngài là A nan ghi lại và truyền
cho hậu thế. Trong các kinh đó, Ngài đă giải thích
mọi thứ cho đến tận ngọn nguồn,
bằng một ngôn ngữ rơ ràng, giản dị, kỹ
lưỡng, và cô đọng. Ngài đă
chỉ dạy tận tường cho chúng ta, mà không hề
che dấu bất cứ điều ǵ. Những
điều giáo hóa của Ngài được lưu
truyền cho hậu thế, trước tiên bằng
Phạn ngữ Sanskrit và Pali, rồi sau đó
được phiên dịch ra chữ Hán, chữ Nhật,
chữ Cao Ly, chữ Việt Nam, chữ Miến
Điện, chữ Thái, chữ Tây Tạng,chữ Pháp,
chữ Đức, chữ Anh,... Bộ
Luật tạng, gồm các giới luật mà Ngài
đặt ra cho tăng đoàn của Ngài, là loại sách
thứ hai ghi lời Ngài giảng dạy. Và cuối
cùng là bộ Luận tạng, gồm các trước tác
của các đệ tử danh tiếng của Ngài như
Mă Minh, Long Thọ, Vô Trước, Thế Thân, Bồ
Đề Đạt Ma,... là loại sách thứ ba của
tam tạng kinh điển.
Kể từ
thời Phật Thích Ca truyền giảng giáo pháp của
Ngài cho nhân loại, có đến cả tỷ người
trên thế gian đă đi theo con
đường Ngài giảng dạy, và đă chứng
đắc những quả khác nhau, dù chỉ là giới hạn.
Bởi v́ cho dù mọi chúng sinh rồi cũng sẽ
đều thành Phật, trạng thái an
tịnh tuyệt đối, tự do tự tại, con
đường đến đó c̣n rất dài và vô cùng gian
lao, cần rất nhiều kiếp sống và tu tập
không ngừng nghỉ.
Nhưng
ta cũng không nên nản chí v́ tương lai c̣n mờ
mịt xa vời.
Cuộc hành tŕnh nào cũng phải có khởi
điểm. Và một khi bắt đầu, ta sẽ
thấy ngay lợi
lộc, cũng y như một lực sĩ
thấy bắp thịt ḿnh phát triển do tập tành
vậy.
Ta nên ư
thức rằng lời Phật dạy không phải là
điều cấm, mà là lời răn, cảnh giác ta
về hậu quả của ác nghiệp, và khuyến khích
ta làm lành. Phật dạy ta khổ đau là
một thực tế của nhân sinh, nhưng nó không
phải là điều tất yếu. Ngài
chỉ cho ta những nguyên nhân của khổ đau, đó
là tham sân si. Ngài dạy ta có thể tiêu diệt khổ
đau, và chỉ cho ta con đường thoát khổ. Đó là Tứ Diệu Đế, nội dung
của Kinh Chuyển Pháp Luân, bài kinh đầu tiên Ngài
giảng dạy cho năm đệ tử là nhóm ông
Kiều Trần Như.
Để
diệt ḷng tham, Ngài dạy pháp Bố Thí. Có thể là thí tài, tiền
bạc của cải, hoặc thí pháp, cho t́nh bạn, an
ủi pḥ trợ trong tai ương,... nhưng cái thí
đáng quư nhất là chỉ dạy về giáo pháp của
Ngài, v́ nó sẽ vẫn c̣n lại với người
nhận trong suốt cuộc đời. Và khi
truyền dạy Phật pháp, đồng thời ta cũng
đă Thí Vô Úy, cho cái tâm không sợ sệt, v́ ta biết
rằng khi thực hành giáo pháp của Ngài, th́ không nguy
hiểm ǵ có thể xảy đến cho ta cả. Để diệt ḷng sân, Phật dạy ta pháp
nhẫn nhục, và tỏ ḷng thương xót đến
người làm ta tức giận, v́ chỉ những
người đau khổ mới gây ra đau khổ cho
kẻ khác. Và để diệt si, Ngài dạy ta phát
huy Trí Bát Nhă, do tu tập theo giáo pháp
của Ngài.
Phật Thích
Ca chỉ cho ta là ḷng tin vô cùng quan trọng, nhưng đây
không phải là mù quáng tin vào lời Ngài nói. Ḷng tin trong
Phật giáo phát triển từ từ, và dựa vào sự
nghiên cứu tường tận mọi hiện
tượng trong vũ trụ, sự xử dụng cho
đến kiệt cùng khả năng tư duy dựa trên
luận lư, và sự tuân thủ kỹ lưỡng vào hành
động cư xử đúng đắn, có thể
thấy trong Bát Chánh Đạo:
1- Chánh
kiến
2- Chánh tư
duy
3- Chánh ngữ
4- Chánh
nghiệp
5- Chánh
mạng
6- Chánh tinh
tấn
7- Chánh
niệm
8- Chánh
định
Tăng
đoàn Phật giáo bao gồm bốn loại, là tăng, ni, thiện nam, và tín nữ. Các tăng và ni là những người xuất gia, không
được giữ của cải thế gian, phải
sống đạm bạc, khất thực để
hiện tồn, và truyền giảng Phật pháp để
đền đáp sự cúng dường của chúng sinh.
Họ phải t́m hiểu thật tường tận
lời Phật dạy trong các kinh sách, thực hành tu tập,
tuân theo giới luật, và nghiên cứu
các bộ luận của các vị đại sĩ
xiển dương lời Phật dạy.
Có
rất nhiều tông phái Phật giáo trong suốt chiều
dài lịch sử đạo Phật, mỗi tông lại chú
trọng vào một vài khía cạnh riêng của Phật pháp. Hiện nay ta có Tiểu thừa
tại các nước Tích Lan, Miến
Điện, Thái Lan, Lào,
Muốn là
Phật tử, điều kiện tối thiểu là tam
quy, quy y tam bảo, t́m đến chỗ dựa là Phật,
Pháp, Tăng, và ngũ giới, lánh năm điều
dẫn đến ác nghiệp, hoặc làm mất tự
chủ để đưa đến ác nghiệp:
1- Sát sinh
2- Trộm
cắp
3- Tà dâm
4- Vọng
ngữ
5- Dùng chất
say, gồm rượu và ma túy
Ta có thể
thấy Phật giáo là một thứ tôn giáo rất
đặc biệt, v́ nó đồng thời cũng là khoa
học, triết học, luận lư học, tâm lư học, và
đạo đức học. Nó là một
phương cách sống toàn diện và đầy
đủ. Nó không rao giảng sự
thiếu khoan dung, sự kỳ thị, bạo lực,
hoặc thủ đoạn. Thay vào
đó, nó chỉ ra một con đường rơ rệt và
chắc chắn đưa đến thông cảm, từ
bi, chia sẻ, và thoát khỏi căng thẳng tinh thần và
đối kháng. Nó cứu vớt con người ra
khỏi khổ đau, sợ sệt, ngu
tối, và cuồng vọng. Nó nối liền thế
giới vi mô của những loài nhỏ
nhoi vô nghĩa với thế giới vĩ mô của vũ
trụ bao la. Nó đem ư nghĩa và viễn
tượng đến cho một cuộc sống đáng
lẽ là phi lư. Và nó không thể bị bài bác theo luận lư, v́ nó là khoa học.
Với đà
tiến bộ khoa học kỹ thuật ngày nay, nhân
loại có thể tự tồn mà không cần chiến
tranh, với điều kiện có những chính sách khôn
ngoan về sản xuất thực phẩm, bảo vệ
môi sinh, và kiểm soát dân số. Rồi đây với
sự thống nhất của toàn nhân loại qua sự
giao lưu cải thiện hơn và sự loan truyền
kiến thức nhanh chóng hơn, tương lai nhân loại
sẽ rất sáng sủa. Tuổi thọ con người
sẽ tăng lên. Những điều
kiện sống sẽ được cải thiện.
Rồi đây, sẽ có một vị Phật
khác xuất hiện trên trái đất của chúng ta, đó
là Phật Di Lặc. Đó là thông điệp mà Phật
Thích Ca đă để lại cho chúng ta.
Ngược
hẳn với nhận xét thông thường, Phật giáo
rất tích cực và lạc quan. Phật giáo tuyên giảng là
mỗi chúng ta hoàn toàn có khả năng đạt
đến điều cao đẹp nhất, mỗi chúng
ta có thể cải thiện tương lai của chính ḿnh,
mỗi chúng ta đều là chủ của vận mệnh
ḿnh, mỗi chúng ta đều có khả năng hóa giải
khổ đau và đạt đến an vui tự tại
ngay trong cuộc đời này. Mỗi chúng ta đều có
thể giúp đỡ người khác đạt
đến tự do hoàn toàn và đầy đủ, cùng
một lúc với việc tự giúp ḿnh. Bất
cứ ai cũng có thể là một bồ tát, nếu
người đó phát nguyện giúp người khác thoát
khỏi tham sân si. Nhưng điều kiện
đầu tiên để trở thành bồ tát là tin vào
Phật, Pháp, Tăng. Và v́ Phật giáo không chấp nhận
ḷng tin mù quáng, tin có nghĩa là luôn luôn phát huy hiểu biết
và không bao giờ ngừng t́m hiểu.
Luận giải này là
một tóm lược Phật giáo được hấp
thụ qua một lăng kính cá nhân, và triển khai qua
vận dụng luận lư. Ước mong là nó sẽ có
thể dùng như một tài liệu nhập môn,
đưa dẫn người đọc vào thế
giới diệu kỳ của minh triết mà Phật Thích
Ca Mâu Ni đă đạt được và chỉ dạy cho
chúng ta. Có thể c̣n có nhiều khuyết điểm và
sơ xuất, ngay cả sự thiếu chặt chẽ
trong suy luận, hoặc lầm lẫn trong kiến
thức khoa học. Dù sao, nó cũng là một cố
gắng khiêm nhường để có một cái nh́n
thấu triệt toàn cảnh, và nên được xem
như là một lời mời gọi dẫn đến
sự đào sâu hơn nữa của những bộ óc
xuất chúng nhất của nhân loại, những
người không thể chấp nhận mê tín và sự
thiếu luận lư như là một phương cách
để giải thích những bí nhiệm của cuộc
đời.
Nếu
bài luận văn này có vẻ như là quá tham vọng, th́
đó cũng chỉ v́ cần thiết phải như vậy,
chứ không phải do sự kiêu mạn về tri thức. Quả thực, dám bao gồm
cả một kiến trúc đồ sộ và vĩ
đại về kiến
thức và minh triết là Phật giáo trong ṿng vỏn
vẹn mươi trang giấy thật giống như là
một cuồng vọng ngạo ngược, nếu nó
đă không được viết ra với một tấm
ḷng chân thành nhất, là ước vọng đưa
được một lối sống tuyệt diệu
nhất đến một quần chúng đông đảo
nhất trong kỷ nguyên mới đầy sôi động
này, khi thời giờ quả là vô cùng khan hiếm, và cơn
băo lụt thông tin ghê gớm có thể làm cho con người
ch́m sâu vào trong rối loạn và phù phiếm.
+++
Qúy bạn có ư
kiến đóng góp, xin vui ḷng gửi qua e-mail cho:
phatvu3@yahoo.com
Xin
chân thành cảm tạ trước.
+++