LỊCH SỬ ĐỨC
PHẬT THÍCH CA
LÀ LỊCH SỬ CỦA
MỘT CON NGƯỜI …
Thích Minh Châu
Lịch sử
Đức Phật Thích Ca là lịch sử một con
người, nhờ công phu tu tập bản thân, đă
trở thành một con người hoàn thiện, một
bậc Thánh giữa thế gian; “con người vĩ
đại nhất sinh ra ở đời này”, nếu dùng
lại lời của nhà Thi hào Ấn Độ Tagore.
Bằng cuộc
đời của Ngài, và bằng những lời dạy
của Ngài được kết tập lại trong ba
tạng kinh điển, Đức Phật đă khai thị
cho loài người biết rằng, bất cứ một
người nào, với sự nỗ lực của bản
thân, đều có thể vươn lên tới đỉnh
cao nhất của giác ngộ và giải thoát, như chính
Đức Phật vậy.
Có thể nói, không có
một tôn giáo nào, một hệ tư tưởng nào
đề cao con người và đặt niềm tin vào con
người như là Đạo Phật. Tính nhân bản
tuyệt vời của Đạo Phật chính là ở
chỗ đó.
Tránh mọi
điều ác, làm mọi điều lành, gội sạch
nội tâm để trở thành bậc Thánh, một con
người hoàn thiện về đức hạnh và trí
tuệ, mỗi người chúng ta đều có khả
năng và bổn phận thực hiện lời dạy
đó, bức thông điệp đó mà Đức Phật
đă trao cho loài người chúng ta, cho mỗi chúng ta. Đó là ư nghĩa chân chính của nhân sinh, giá
trị chân thực của cuộc sống. Không thể có ư nghĩa nhân sinh nào cao quư hơn,
khích lệ hơn đối với cuộc sống
của chúng ta hiện nay.
Chúng tôi từ lâu
vẫn cho rằng đời sống của Đức
Phật Thích Ca, trong nét đại cương cũng
như chi tiết, đều thể hiện và truyền
đạt một cách vô cùng sinh động lời dạy
đó của Đức Phật. Tin tưởng ở
Đức Phật, đảnh lễ Ngài và niệm danh
hiệu Ngài, chủ yếu là để học tập Ngài
về cả hai mặt đức hạnh và trí tuệ, dù
chỉ là trong muôn một. Người nào tuy ở xa
Phật, nhưng sống có giới hạnh, theo lời
Phật dạy, th́ cũng như sống gần Phật.
Người nào tuy sống bên cạnh Phật, nhưng
sống không có giới hạnh, th́ cũng không khác ǵ ở
cách xa Phật muôn trùng.
Những
người Phật tử Việt
Sống
trong vũ trụ này, được làm người là
một chuyện khó. Đức Phật nói rằng: “Được
làm người khó như một con rùa chột mắt,
cứ mỗi trăm năm mới ngóc đầu lên
khỏi mặt biển một lần, và t́m cách chui
đầu vào lỗ nhỏ của một khúc gỗ trôi
lềnh bềnh trên mặt nước, bị gió Đông,
gió Tây, gió Nam, gió Bắc thổi trôi dạt hết
phương này đến phương khác”.
Được làm người cũng khó như con rùa
chột mắt đó muốn chui qua được lỗ
nhỏ của khúc gỗ như thế. Trong kinh
Tương Ưng V, Đức Phật đă dạy: “Ví
như, này các Tỳ-kheo, một người quăng
một khúc gỗ có một lỗ hổng vào biển
lớn. Tại đấy có con rùa mù, sau
mỗi trăm năm nổi lên một lần. Các ngươi nghĩ thế nào? Này các
Tỳ-kheo, con rùa ấy, sau mỗi trăm năm, nổi
lên một lần, có thể chui cổ vào khúc cây có một
lỗ hổng hay không?”
- “Năm khi
mười họa may ra có thể được, bạch
Thế Tôn, sau một thời gian dài.”
“Ta tuyên bố
rằng c̣n mau hơn, này các Tỳ-kheo, là con rùa mù ấy, sau
mỗi trăm năm nổi lên một lần, có thể
chui cổ vào khúc gỗ có lỗ hổng ấy. C̣n hơn kẻ
ngu, khi một lần đă rơi vào
đọa xứ, để được làm
người trở lại. V́ cớ sao?
V́ rằng ở đấy không có pháp hành,
chánh hành, thiện nghiệp, phước nghiệp.
Ở đấy, này các Tỳ-kheo, chỉ có ăn
thịt lẫn nhau, và chỉ có kẻ yếu bị ăn
thịt…” (Tương Ưng V, 485).
“Thật
khó được vậy, này các Tỳ-kheo, là
được làm người. Thật khó được
vậy, này các Tỳ-kheo, là được Như Lai
xuất hiện ở đời, bậc A La Hán, Chánh
đẳng giác, thật khó được vậy. Này các
Tỳ-kheo, là pháp và luật này do Thế Tôn thuyết
giảng, chiếu sáng trên đời…” (Tương Ưng
V, 459 – 460).
Đức
Phật xuất hiện ở đời cũng là
chuyện khó như thế. Pháp và Luật
được Đức Phật truyền bá ở
đời cũng là chuyện khó như thế. Chúng
ta có ba cái may mắn hiếm có là được sống làm
người, được biết Đức Phật
Thích Ca và Pháp, Luật do Đức Phật dạy, ấy
thế mà chúng ta lại không biết tranh thủ tối
đa ba cái may mắn đó hay sao? Chúng ta lại có thể
sống không giới hạnh, trái với lời Phật
dạy, để rồi bị nghiệp ác lôi cuốn vào
những cơi sống khác thấp hơn, khổ hơn cơi
người, và cuối cùng phải phấn đấu
trở lại làm người như con rùa chột mắt
trong câu chuyện ví dụ của Đức Phật hay sao?
Rất mong quư vị
Phật tử suy ngẫm về bài học của lịch
sử Đức Phật, về ảnh dụ con rùa
chột mắt chơi vơi trên đại dương,
về ư nghĩa của nhân sinh, về giá trị chân
thực của cuộc sống, về cuộc sống
hiện thực hiện nay của mỗi chúng ta, làm sao
để cho cuộc sống đó thật sự an
lạc, hướng thượng, lợi cho ḿnh, lợi
cho người, lợi cho đời, lợi cho
Đạo.
VÀI SUY
NGHĨ VỀ QUAN NIỆM
ĐỨC
PHẬT LỊCH SỬ VÀ ĐỨC PHẬT TÔN GIÁO
Thích
Thị Quả
--- o0o ---
Chúng ta không
thể nói đức Phật lịch sử là con
người b́nh thường như những con
người khác bởi v́ Ngài không được sinh ra
từ nơi bất tịnh, lớn lên trong đau khổ
và chết dần trong đau khổ. . . Đức Phật
trong kinh Đại thừa không phải là đức
Phật tôn giáo mà nhằm tiêu biểu cho pháp môn mà ngài
đang giảng. . . Chúng ta đừng
bao giờ đem những nhăn hiệu "đức
Phật lịch sử" hay "đức Phật tôn
giáo" áp đặt lên Ngài!
Kính quư liệt vị,
Ngày Phật Thành đạo năm nay, chúng ta
được về Bồ-đề Đạo Tràng,
nơi đức Phật thành đạo, để ôn
lại ngày lịch sử thiêng liêng ấy, và cùng thảo
luận chuyên về về đức Phật và ngày thành
đạo của Ngài. Nhân đây tôi cũng
xin được nói lên vài suy nghĩ của ḿnh về
đức Phật lịch sử và đức Phật tôn
giáo.
Gần đây, có
nhiều học giả thuộc tín đồ của các tôn
giáo khác nghiên cứu Phật học. Một
số ít trong họ đă cho rằng có hai đức
Phật. Đó là đức Phật lịch sử và
đức Phật tôn giáo. Quan
điểm này, thực sự đă đưa đến
sự hiểu lầm về đức Phật cho
nhiều thế hệ tín đồ Phật giáo cũng
như những người nghiên cứu Phật học.
Qua bao năm miệt mài nghiên cứu Phật pháp,
tôi chưa t́m thấy một đoạn kinh nào trong Tam
Tạng Pàli cũng như Đại thừa đề
cập đến vấn đề: đây là đức
Phật lịch sử và đây là đức Phật tôn
giáo.
Trong thực tế,
chỉ có một đức Phật Thích-ca xuất hiện
ở thế gian này. Thế th́ đức Phật nào là
đức Phật lịch sử và đức Phật nào
là đức Phật tôn giáo?
- Phải chăng đức Phật phóng hào quang,
soi sáng mười tám ngàn thế giới phương
đông (phẩm tựa, Kinh Pháp Hoa) là đức
Phật tôn giáo?
- Đức Phật bày tướng lưỡi
rộng dài đến trời Phạm thiên, tất cả
lỗ chân lông phóng ra vô lượng hào quang, thảy
đều soi khắp thế giới mười
phương (phẩm Như Lai Thần Lực) là
đức Phật tôn giáo?
- Đức Phật mà trên đầu của Ngài
mọc lên một hoa sen ngàn cánh, mỗi cánh có một hóa
Phật ngồi, đồng thời nói thần chú
Lăng-nghiêm và sai ngài Văn Thù đem thần chú ấy
giải thoát cho ngài Anan (Kinh Lăng-nghiêm) là đức
Phật tôn giáo?
- Lại khi ngài Xá-lợi-phất hoang mang rằng
cơi nước chư Phật đều thanh tịnh mà cơi
nước của Phật Thích-ca lại bất tịnh,
biết rơ tâm của ngài Xá-lợi-phất, Phật bấm
ngón chân xuống đất, cơi Ta-bà rung động và cơi
đất lập tức biến thành Tịnh Độ
(phẩm Phật quốc, Kinh Duy Ma) là đức
Phật tôn giáo?
- Đức Phật
có một đời sống vô lượng vô biên
A-tăng-kỳ kiếp. Ngài có vô lượng hào quang, vô lượng công
đức và ngài đă kiến tạo thế giới
của ngài bằng 48 lời thệ nguyện (Kinh
Đại Bửu Tích và Kinh A-di-đà) là
đức Phật tôn giáo?
- Đức Phật,
lại là một thầy thuốc đại tài chuyên
chữa trị cho chúng sanh (Kinh Dược Sư) là
đức Phật tôn giáo?
- Phải chăng đức Phật
Tỳ-lô-giá-na có ba thân trong kinh Hoa Nghiêm là đức
Phật tôn giáo?
- Đức Phật
hiện thần thông làm cho hai thanh niên Bà-la-môn thấy rơ
tướng đại nhân của Ngài (Kinh Lakkhana
thuộc Trường Bộ kinh VI) là đức
Phật tôn giáo?
- Đức Phật
dùng thần thông làm cho tên cướp Angulimala chạy
hết tốc lực mà vẫn không đuổi kịp ngài
(Kinh Angulimala thuộc Trung Bộ II) là đức
Phật tôn giáo? v.v. . .
Các Ngài không phải là
đức Phật tôn giáo với ư nghĩa như là
những nhân vật thần thoại, hoang đường,
ảo tưởng hay là Thượng đế. Các Ngài
không phải là thần linh vạn năng, bắt buộc
con người phải cúi đầu vâng lệnh.
Đức Phật Thích-ca chính Ngài đă phủ nhận
sự hiện hữu của một oai lực siêu thế,
một chúng sanh toàn năng hay năng lực khởi
thuỷ của các sự vật, cũng không có tính cách
thần khải, không có người truyền đạt
tin tức và những lời sấm của một thần
linh từ đâu trên cao xuống con người (xem Đức
Phật và Phật Pháp của Narada, trang 259).
Đức Phật
trong kinh Đại thừa cũng như trong kinh Pàli là
những nhân vật tiêu biểu cho pháp môn mà đức
Phật đang giảng. Chẳng hạn như đức Phật trong
phẩm tựa Kinh Pháp Hoa là nhân vật biểu
trưng cho tri kiến Phật: nhằm giới thiệu cho
mọi người biết rằng tất cả chúng sanh
đều có Phật tánh. Muốn ngộ nhập tri
kiến Phật của ḿnh trước tiên hành giả
phải dùng trí tuệ Trung đạo (phóng hào quang giữa chặng
mày) để thấy rơ sáu căn, sáu trần, sáu thức
(mười tám ngàn thế giới phương đông),
thấy rơ từng động tịnh của chúng sanh
(thấy rơ chư Phật, Bồ-tát, Thinh Văn và chúng sanh
ở các cơi kia). Thấy rơ được
như vậy chính là đă ngộ nhập được
tri kiến Phật của ḿnh (xem Thích Từ Thông, Pháp Hoa
Trực Chỉ Đề Cương, phẩm tựa).
Đức Phẩm
ở phẩm Như Lai thần lực, Kinh Pháp Hoa là
nhân vật biểu trưng cho năng lực kỳ
diệu của chơn tâm. Sau khi hành giả đă thấy
được Phật tri kiến, tâm của họ
trở nên thuần tịnh. Từ bản giác diệu
minh ấy pháp ra trí tuệ tṛn sáng (những lỗ chân lông
đều phát ra vô số hào quang) và năng lực
thuyết pháp của ông ta giờ đây trở nên hữu
hiệu hơn, có thể giúp chúng sanh vượt thoát sanh
tử luân hồi trong tam giới (tướng lưỡi
rộng dài đến cơi trời Phạm thiên) (xem Thích
Thiện Trí, Pháp Hoa Giảng Nghĩa, phẩm Như
Lai thần lực).
Đức Phật
trong phẩm Phật quốc kinh Duy-ma, là nhân vật
biểu trưng cho pháp môn bất nhị. Nghĩa là Tịnh
Độ (tịnh) và Ta bà (nhiễm) không hai, chúng sanh và
Phật không hai (Phật bấm ngón chân xuống đất
cơi ta bà lập tức biến thành Tịnh độ) và
chỉ có tâm của chúng sanh tịnh hay nhiễm mà thấy
cơi Phật trở nên tịnh hay bất tịnh (xem Thích
Từ Thông, Duy Ma Cật Trực Chỉ Đề
Cương, phẩm Phật Quốc).
Đức Phật A-di-đà trong kinh Đại
Bửu Tích và kinh A-di-đà là nhân vật biểu trưng cho
tự tánh A-di-đà của mỗi chúng sanh, trong tự tánh
ấy có đủ vô lượng thọ, vô lượng
quang và vô lượng công đức (xem Chán and Zen Teaching,
trang 42).
Đức Phật trong kinh Dược Sư là
nhân vật biểu trưng cho tâm từ bi, chính nó là môn
thuốc chúa, có thể trị lành bệnh chấp ngă cho
chúng sanh (xem 10 lời nguyện của Phật Dược
Sư).
Đức Phật
Tỳ-lô-giá-na trong kinh Hoa Nghiêm là nhân vật tượng
trưng cho Pháp thân Phật. Trong Pháp thân đă có đủ
Báo thân và Hóa thân. Lục Tổ Huệ Năng nói "Pháp thân, Báo
thân cập Hóa thân, tam thân bổn lai thị nhứt
thân." Nghĩa là Pháp thân, Báo thân và Hóa thân, ba thân ấy
vốn là một thân. Và Lục Tổ c̣n chỉ rơ rằng:
"Thanh tịnh Pháp thân nhữ chi tánh dă, viên măn Báo thân
nhữ chi trí dă, thiên bá ức Hóa thân nhữ chi hành dă."
Nghĩa là Thanh tịnh Pháp thân là tự tánh thanh tịnh,
Viên măn Báo thân là trí tuệ và Thiên bá ức Hóa thân là hạnh
của mỗi chúng ta. Mỗi chúng sanh
đều có đủ ba thân này (xem Pháp Bảo Đàn
Đức Phật
trong kinh Lăng-nghiêm được biểu trưng
cho chơn tâm thường trú, thể tánh tịnh minh
của mỗi chúng sanh. V́ ngài Anan sống với vọng tâm cho nên ngài
bị Ma đăng già quyến rũ.
Tuy nhiên vọng tâm không phải thật có, cho nên đức
Phật đă dùng huyễn pháp (Hóa Phật) để
đối trị huyễn pháp (chú Sat́ cala) giúp cho ngài Anan
thoát khỏi Ma đăng già và sống lại với
chơn tâm thanh tịnh, và bản giác diệu minh của
chính ngài (xem Sùrangama Sutra trang 01-82 ).
Đức Phật trong kinh Lakkhana Trường
Bộ kinh IV và kinh Angulimala Trung bộ II giống như
đức Phật trong phẩm Như Lai Thần lực
kinh Pháp Hoa, đă được viện dẫn ở trên.
Chính v́ kinh Đại thừa quá ư trừu
tượng, khó hiểu, khó bàn, nên ông Kern, nhà bác học Hà
Lan đă viết trong bài giới thiệu cho quyển sách
đă dịch của ông tên là "The Lotus of the True Law"
rằng: "Kinh Pháp Hoa có ư đề cao đức
Phật Thích-ca như một nhân vật siêu nhân, là
thượng đế của những thượng
đế toàn năng toàn trí ..." (xem Kern, Introduction of
the Lotus of true Law, trang 27). Theo ông Kern,
đức Phật trong kinh Pháp Hoa là đức Phật tôn
giáo và Ngài được đề cao như một
thượng đế của những thượng
đế.
Dịch giả của quyển Trường
bộ kinh III đă viết ở phần đại ư
của kinh Đại Bổn như sau:
"Chúng ta thấy sự sai khác giữa hai quan
niệm đức Phật lịch sử như
được diễn tả trong tập Mahavagga về
đức Phật Thích-ca với rất ít thần thông,
nếu không phải là không có, và đức Phật tôn giáo
như đă diễn tả trong kinh này (kinh Đại
Bổn) với các điềm tướng xuất hiện
các thần thông diệu dụng. Ở đây chúng ta
chứng kiến sự bắt đầu c̣n dè dặt và
thận trọng, đặt nhẹ dưới h́nh
thức một chuyện tiền thân về đức
Phật Tỳ Bà Thi (Vipassi)... Sau này đặc tính tôn giáo
lan qua các mẫu tích về đức Phật Thích-ca Mâu Ni
đến nỗi bao phủ con người lịch sử
Sa môn Gotama như chúng ta chứng kiến sau này."
Tác giả bài viết này đă xuyên tạc bài kinh
Đại Bổn và đă gán ghép một cách phi lư
đặc tính tôn giáo (Thượng đế, mặc
khải, mê tín) vào năng lực thần thông của
đức Phật Tỳ-bà-thi và sáu đức Phật khác
trong kinh ấy. Vị này vô t́nh đă gieo mầm độc
vô minh và chấp ngă vào mảnh đất tâm trong sáng, thanh
tịnh của nhiều thế hệ Tăng Ni và Phật
tử, làm cho họ mịt mờ trên con đường
học đạo giác ngộ!
Nếu cho rằng đức Phật thần
thông là đức Phật tôn giáo, th́ đức Phật
Thích-ca Mâu Ni, ngay trong đêm thành đạo Ngài đă
trở thành đức Phật tôn giáo. V́
rằng đêm ấy Ngài đă chứng được sáu
thứ thần thông. Đó là:
- Thiên nhăn thông: Mắt Ngài có thể nh́n thấy
được vật bên kia vách, vật
bên kia núi, từ cơi Ta bà Ngài có thể thấy
được những thế giới xa xăm khác.
- Thiên nhĩ thông: Tai Ngài có
thể nghe và hiểu được tiếng của muôn
loài.
- Tha tâm thông: Ngài hiểu rơ được tâm
tư t́nh cảm của mỗi chúng sanh.
- Túc mạng thông: Ngài biết rơ những kiếp
quá khứ của Ngài và của chúng sanh như một
đời, hai đời cho đến vô số
đời.
- Thần túc thông (c̣n gọi là biến hóa thần
thông): Ngài, từ một thân, biến thành nhiều thân, và
từ nhiều thân biến thành một thân. Ngài
có thể đi qua vách, qua núi, đi trên nước,
ngồi trên hư không. Ngài có thể sờ mặt
trăng, mặt trời với bàn tay
của Ngài.
- Lậu tận thông: Ngài đă gọt sạch
phiền năo từ tâm của Ngài và dạy cho người
khác về phương pháp đoạn trừ cấu
nhiễm để chứng đạt Niết bàn (xem Đức
Phật và Phật Pháp, trang 51 – 53; xem kinh Maha Sakuludi
Dayi, Trung bộ II trang 308, kinh Maha Sihanada Sutta (Kinh
Đại Sư Tử Hống) Trung bo䠉 trang
120).
Như vậy, thần thông không những chỉ
bao phủ con người lịch sử Sa-môn Gotama mà nó c̣n
ăn sâu tận đầu, năo, tim, gan, qua từng hơi
thở và từng bước đi của con người
lịch sử Sa-môn Gotama.
Như chúng ta đă biết, không những
đức Phật mới đặt vấn đề
thần thông trong kinh Đại Bổn mà Ngài đă
giảng nhiều về thần thông trong kinh Đại
Sư Tử Hống, Trung bộ I, kinh Kevadha,
Trường bộ I, kinh Angulimala, Trung bộ II, kinh
Lakkhana, Trường bộ IV, v.v... Quyển "The
Buddha and His Teaching" cũng đă chép những mẫu
chuyện về thần thông của đức Phật:
Ngài đă dùng thần thông độ bà Khema, thứ hậu
xinh đẹp của B́nh Sa Vương; độ bà
Patacara một phụ nữ bất hạnh; hàng phục con
độc long của ngài Xá-lợi-phất; hàng phục voi
say của vua A-xà-thế. Khi Đề-bà-đạt-đa
từ trên núi cao, xô một tảng đá to cố ư giết
Phật v́ mục đích muốn làm giáo chủ Tăng
đoàn, Đức Phật đă dùng thần thông làm cho
tảng đá ấy vở ra từng mảnh vụn v.v...
Thần thông không phải là vấn đề tôn
giáo hay không tôn giáo mà nó là năng lực kỳ diệu
của chơn tâm (phẩm Pháp Sư Công Đức, kinh
Pháp Hoa). Mỗi chúng sanh đều có cái
năng lực diệu dụng ấy. Một ngày mà
lớp bụi vô minh bao phủ trên tấm gương sáng
trí tuệ được quét sạch hoàn toàn, th́ cái năng
lực kỳ diệu ấy sẽ xuất hiện.
Nếu chúng ta cho rằng đức Phật tôn
giáo là sản phẩm của ảo tưởng, hoang
đường, thần thoại th́ vô t́nh chúng ta đă nói
đức Phật là "Linh hồn của những
điều kiện không có linh hồn, là trái tim
của thế gian không có trái tim, là nha phiến của dân
chúng" (Marx). Và chính chúng ta tự giới
thiệu ḿnh là người kém hiểu biết về giáo lư
thuần túy của đức Phật.
Về khía cạnh
lịch sử, đức Phật Thích-ca được
xem là đức Phật tôn giáo v́ Ngài là giáo chủ của
một tôn giáo, có giáo đoàn và giáo lư.
Để tỏ ḷng tôn kính đối với
đức Phật, học giả Radha Krishnan đă
viết:
"Nơi đức
Phật Cồ-đàm ta nhận thấy một tinh hoa toàn
diện của người phương Đông. Ảnh
hưởng của Ngài trong tư tưởng và
đời sống nhân loại là một kỳ công hy
hữu, cho đến nay không thua kém ảnh hưởng
của bất cứ vị giáo chủ nào trong lịch
sử. Mọi người đều sùng kính tôn Ngài
là người đă dựng lên một hệ thống tôn
giáo vô cùng thâm cao huyền diệu, Ngài thuộc về
lịch sử tư tưởng thế giới. Ngài là kết tinh của người thiện trí,
bởi v́ đứng về phương diện trí
thức, đạo đức trang nghiêm và tinh thần minh
mẫn chắc chắn Ngài là một trong những bậc
vĩ nhân cao thượng nhất của lịch
sử" (xem Gotama the Buddha, trang 1).
Tôn giáo mà đức Phật đă dựng lên không
phải là một hệ thống tín ngưỡng và tôn sùng
lễ bái, trung thành với một thần linh siêu nhiên.
Niềm tin của người Phật tử đặt
vào đức Phật cũng giống như người
bệnh đặt niềm tin vào vị lương y tài
giỏi, hay niềm tin của người học tṛ
đặt trọn vẹn nơi thầy. Mặc dù nương
tựa nơi đức Phật và tôn trọng Ngài là
vị hướng đạo sư, là thầy dắt
dẫn trên con đường giải thoát, người
Phật tử không qui phục mù quáng như kẻ nô
lệ, mà họ nương theo giáo pháp tự nỗ
lực để đạt đến giác ngộ giải
thoát. Giáo sư Rhys David đă viết:
"Dầu là Phật tử hay không là Phật
tử, tôi nghiên cứu từng hệ thống tôn giáo
lớn trên thế giới, trong tất cả tôi không t́m
thấy một tôn giáo nào có cái ǵ đẹp đẽ và
hoàn toàn hơn Bát chánh đạo của đức
Phật. Tôi chỉ c̣n một việc làm là thu xếp
nếp sống cho phù với con đường ấy (xem The
Buddha and His Teaching, trang 160).
Chúng ta không thể nói đức Phật lịch
sử là con người b́nh thường như những
con người khác bởi v́ Ngài không được sinh ra
từ nơi bất tịnh, lớn lên trong đau khổ
và chết dần trong đau khổ (xem phần Bồ-tát
nhập thai, kinh Hy Hữu Vị Tằng Hữu, Trung
bộ III, số 123 trang 248).
Theo tinh thần kinh
Pháp Hoa, đức Phật Thích-ca đă thành Phật
từ vô lượng kiếp (phẩm Như Lai Thọ
Lượng). V́ thấy chúng sanh đang bị
thiêu đốt bởi ngọn lửa tham, sân, si, ưu bi
khổ năo. Hiện thế họ phải chịu
nhiều đau khổ như sanh, già, bịnh, chết:
khổ, yêu thương mà phải xa ĺa: khổ, oán thù
gặp nhau: khổ, cầu mong không được toại
ư: khổ, chấp mắc về thân năm uẩn là
khổ. Họ c̣n chịu nhiều đau
khổ hơn nữa trong địa ngục, ngạ
quỉ, súc sanh trong đời sống tương lai
của họ (phẩm Thí dụ). V́ ḷng thương
chúng sanh, v́ an lạc và hạnh phúc cho chư thiên và loài
người, Ngài đă giả vờ sinh vào đây như
một con người; Ngài đă thị hiện có sinh ra đời,
hưởng thọ dục lạc, xuất gia, tu hành, thành
đạo, thuyết pháp độ chúng sanh và nhập
Niết bàn ở tuổi 80. Đó là phương tiện
của Ngài, nhằm giúp cho chúng sanh căn cơ hạ
liệt biết quay về với chánh pháp và từng
bước dắt họ tiến gần đến
Phật quả (phẩm Phương Tiện).
V́ lư do này, vừa sinh ra đời Ngài đă có
đủ 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp, có
đủ đại từ, đại bi, thập lực
vô sở úy; đến nỗi vị Bà-la-môn tên
A-tư-đà, một vị tướng số giỏi
nhất thời bấy giờ, phải sụp lại
dưới chân Ngài, khi vị này thấy rơ 32 tướng
đại nhân của Phật.
Đức Phật
đă dạy rằng Ngài không phải là Thượng
đế, cũng không phải là thần thánh, cũng không
phải là con người mà Ngài là Phật (xem Nalinaksha Dutt, Mahayana
Buddhism, trang 140).
Chắc chắn
Phật không phải là người thường, Ngài sinh ra
với cái nghiệp phi thường mà Ngài đă tạo ra
từ vô lượng kiếp.
Đến đây xin được kết
luận rằng đức Phật là đức Phật.
Ngài có đủ thần thông diệu dụng, đại bi
đại trí và Ngài đă để lại cho nhân loại
một lịch sử vẻ vang về cuộc đời
của Ngài! Chúng ta đừng bao giờ đem những
nhăn hiệu "Đức Phật lịch sử" hay
"Đức Phật tôn giáo" áp đặt lên Ngài!