Ḷng tin
Toàn Không
Ḷng tin là ǵ?
Ḷng tin là không nghi ngờ, không thắc mắc, không do
dự, trung thành, tín cẩn. Khi nói chuyện với một
người, có khi chúng ta tin liền điều
người ấy nói, v́ người ấy nói điều
hợp lư, hoặc người ấy chẳng bao giờ
nói dối nói sai. Có khi nói với một
người về chuyện của một người
khác, người thứ ba, người nói chuyện
chỉ là người đưa tin mà thôi, ở đây có
hai trường hợp. Một là ta
đang nói chuyện với một người đáng tin
cậy, tức là người này không nói sai những ǵ
đă thật sự xảy ra. Hai là
người mà ta đang nói chuyện không đáng tín cẩn,
nên lời nói có thể đúng hoặc sai với sự
thật.
Có mấy loại ḷng tin?
Có hai loại: Ḷng tin mù quáng và ḷng tin đúng
đắn.
1- Ḷng tin mù quáng:
Là tin không cần suy nghĩ thật giả, chân
ngụy, không cần biết điều ḿnh tin có chỗ sai,
hay vô lư. Người tin mù quáng th́ ai nói ǵ
cũng tin nên dễ bị gạt về nhiều
phương diện trong cuộc sống. Có khi những điều tin ấy vô lư đă
được truyền từ nhiều đời rồi
vẫn tiếp tục truyền lại nhiều thế
hệ sau, như quan niệm cho rằng đất
phẳng, vuông chẳng hạn. Sự tin tưởng
sai lầm lui dần khi khoa học tiến lên, bấy
giờ ta mới thấy rằng sự tin tưởng
phải cần được chứng minh, so sánh, chiêm
nghiệm.
2- Ḷng tin đúng đắn:
Là ḷng tin đă được tư duy, kiểm
chứng, áp dụng, ḷng tin dựa trên chính kiến, suy xét
tường tận trên mọi phương diện,
mọi khiá cạnh, bởi chính ḿnh, không bởi
người khác nói lại, không bởi sách vở, không
bởi tục lệ, cũng không bởi cha ông đă theo
đă làm như thế. Khi thấy đúng hoàn
toàn rồi mới tin, đó mới là ḷng tin đúng
đắn, ḷng tin đúng sự thật. Khi đă
biết thật chắc chắn rồi, th́ không c̣n nghi
ngờ ǵ nữa, dù ai có nói ngược nói xuôi cũng không
bị lay chuyển.
Thời đức Phật c̣n tại thế, đa
số các đệ tử của đức Phật
đều tin Ngài một cách tuyệt đối, tuy nhiên,
đọc trong Kinh sách, chúng ta vẫn t́m thấy có
trường hợp một đệ tử của
đức Phật không có ḷng tin vững chắc, câu
chuyện trích phỏng theo bộ Tăng Nhất A Hàm, quyển
một, trang 126 như sau:
Bấy giờ trước đại chúng đông
đảo Tỳ Kheo (Tăng) tại thàmh La Duyệt
vườn Ca Lan Đà, đức Phật bảo các
Tỳ Kheo:
“Các Thầy có thấy pháp (suy nghĩ, nói năng,
việc làm) của Đề Bà Đạt Đa (Em con
người Chú của đức Phật) là thanh tịnh chăng? Ngược lại Đề Bà Đạt Đa
tạo ác sâu nặng, sẽ chịu tội nhiều
kiếp không thể chữa trị. Ta chẳng
thấy Đề Bà Đạt Đa có một tí
điều lành có thể kể ra được. Ví như
có người rơi xuống cầu tiêu sâu, thân h́nh ch́m
lỉm, không c̣n một chỗ nào sạch, người khác muốn
vớt cứu lên, đứng ngó xem thấy người
đó chẳng c̣n có một chỗ nào sạch để có
thể nắm kéo lên, liền bỏ đi. Này
các Tỳ Kheo, tại sao như thế? V́ Đề Bà
Đạt Đa một mực ngu si, tham đắm
lợi dưỡng (Đồ ăn, vật dụng v.v…
của Thái tử A Xà Thế), tạo tội ngũ
nghịch ( tội ngũ nghịch gồm: giết cha
mẹ, muốn hại Phật, phá rối Tăng đoàn, giết
Tăng Ni, có tà kiến như không tin nhân qủa …). Khi chết sẽ đọa Địa ngục
chịu tội nhiều kiếp (mỗi kiếp khoảng
16 triệu năm).
Này các Tỳ Kheo, đă sinh tâm ưa
lợi dưỡng hăy ĺa bỏ, nếu chưa sinh tâm dính
mắc lợi dưỡng đừng cho sinh khởi”.
Khi nghe đức Phật nói như thế, một
Tỳ Kheo đi đến gặp Tôn giả A Nan là Thị
giả của đức Phật, sau khi chào hỏi rồi
nói:
“Thưa Tôn giả, hôm nay trước đại chúng,
Thế Tôn nói đă xem hết nguồn gốc của Tỳ
Kheo Đề Bà Đạt Đa, rồi sau đó thọ
kư cho ông ta phải chịu tội nhiều kiếp v́ không
thể chữa trị được, lại có thể
thọ kư việc này được ư?”
Tôn giả A Nan trả lời: “Những lời nói
của Thế Tôn không thể hư dối
được”.
Sau khi Tỳ kheo ấy rời khỏi, Tôn giả A Nan
đến chỗ đức Phật, vái lạy rồi
thưa:
“Có một Tỳ Kheo đến chỗ con nói rằng:
“Hôm nay trước đại chúng Thế Tôn nói đă xem
hết nguồn gốc tạo tội của Tỳ Kheo
Đề Bà Đạt Đa, rồi sau đó thọ kư cho
ông ta phải chịu tội nhiều kiếp v́ không
thể chữa trị đưọc, lại có thể
thọ kư việc này được ư?”
Đức Phật bảo Tôn giả A Nan: “Tỳ Kheo
đó tu học chưa được bao lâu, lời Như
Lai trọn không hư vọng, tại sao lại nghi
ngờ? Thầy đi bảo Tỳ Kheo
ấy là Ta gọi”.
Chẳng bao lâu, Tỳ kheo ấy đến
trước đức Phật vái lạy xong đức
Phật bảo:
“Này Tỳ Kheo, Thầy không tin lời Như Lai nói sao?
Như Lai tuyệt đối không hư
vọng, nay Thầy lại muốn t́m hư vọng
của Như Lai sao?”
Tỳ Kheo ấy thưa: “Tỳ Kheo Đề Bà
Đạt Đa có đại thần lực, có
đại oai đức, làm sao Thế Tôn thọ kư cho ông
ta chịu tội nặng nhiều kiếp
được?”
Đức Phật bảo: “Hăy giữ miệng
của Thầy chớ để măi măi chịu khổ vô
lượng”, rồi đức Phật nói kệ trách
cứ:
Dạo Thiền thế tục không,
Rút cục không giải thoát,
Chẳng đến chỗ diệt tận,
Trở lại đọa Địa
ngục.
Đức Phật nói tiếp:
“Giả thử Ta thấy Đề Bà
Đạt Đa có một chút pháp lành th́ Ta đă không
thọ kư phải chịu tội nhiều kiếp.
Thế nên, này Tỳ Kheo si mê, sở dĩ như thế v́
Đề Bà Đạt Đa ngu si tham
đắm lợi dưỡng lại c̣n tạo
điều nghịch ác. Này các Tỳ Kheo, hăy
học điều này”.
Khi ấy, Tỳ Kheo ấy vái lạy đức
Phật rồi thưa: “Con tự hối lỗi, cúi mong
Thế Tôn rủ ḷng tha thứ, v́ con u mê, ngu si, tạo
hạnh chẳng lành. Thế Tôn không nói thêm
bớt mà con khởi nghi ngờ. Cúi mong Thế Tôn
nhận cho con sám hối, con sẽ không tái phạm nữa”
Đức Phật bảo: “Lành thay, Thầy biết
hối lỗi về ư niệm sai của ḿnh, Ta tha cho
Thầy, chớ nên nghi ngờ đối với Như Lai.
Nay Ta nhận cho Thầy hối lỗi, sau chớ phạm
lại nữa, rồi đức Phật nói kệ
chứng cho sự sám hối:
Dù có làm tội nặng,
Hối lỗi rồi không phạm,
Người ấy giữ cấm giới,
Nhổ căn nguyên tội này”.
Trên đây, chúng ta thấy vị Tỳ Kheo kia v́ không
có ḷng tin vững chắc đối với bậc
đại Giác, đại Sư của ḿnh, nên đă
tỏ ra nghi ngờ. Sau khi được đức
Phật giảng giải xác quyết đă làm tan mây si mê,
nên vị Tỳ Kheo ấy đă hối lỗi và cầu
xin đức Phật nhận cho được sám hối,
và đức Phật đă chấp thuận.
Một trường hợp khác về
ḷng tin những lời bàn tán, tin đồn, lúc ấy
người nghe nếu không có ḷng tin vững chắc,
sẽ gây sự nghi ngờ vô cùng tai hại. C̣n
nếu đă có sự tin tưởng tuyệt đối
rồi, th́ dù có đồn đại thế nào, có
người nói ra nói vào thế nào đi nữa cũng không
làm thay đổi được ḷng tin của ḿnh.
Một câu chuyện liên quan tới ḷng tin vững
chắc mà chúng ta nên biết cũng trong quyển một,
trang 154 như sau:
Thời bấy giờ tại
nước Xá Vệ, có một Trưởng giả kia có
một đứa con, ông rất thương yêu, nhưng
đứa con lại bị chết bất ngờ, ông
rất sầu khổ đâm ra phát cuồng điên đi
lang thang khắp nơi, gặp ai cũng hỏi: “Có
thấy con tôi không?”
Một hôm ông đi lang
thang lần tới đạo tràng Kỳ Hoàn, có đức
Phật đang ngự tại đó, gặp Phật, ông ta
cũng hỏi: “Sa Môn! Có thấy con tôi không?”.
Đức Phật bảo: “V́ sao ông không vui? Mặt mũi bơ phờ tâm trí rối loạn như
thế? Trưởng giả trả lời: “Tôi như
vầy v́ con tôi chết, nó bỏ tôi, tôi nhớ nó, tôi
buồn khổ, nay tôi hỏi Sa Môn Cù Đàm có thấy con
tôi không?”. Đức Phật trả
lời: “Đúng vậy, sinh già bệnh chết là
thường ở đời, ái ân
biệt ly khổ, đứa con v́ vô thường mà bỏ
ông, há không nhớ nghĩ được sao?” Ông
ta nghe đức Phật nói thế th́ không bằng ḷng bèn
bỏ đi.
Đi đường gặp
người ông liền nói: “Sa Môn Cù Đàm nói rằng: “Ái ân biệt ly liền có khoái lạc”, như
vậy có đúng không?” Người kia
đáp: “Ái ân biệt ly mà vui cái ǵ?”
Rồi Trưởng giả
ấy đi dần đến thành Xá Vệ, gần
chỗ đánh bạc, lại nghĩ rằng: “Các
người đánh bạc đều thông minh, không
việc ǵ chẳng biết, ta nên đến hỏi họ”,
ông bèn đến vào chỗ ấy, trong khi mọi
người đang tụ họp đông đảo
đánh bạc, ông bèn cất tiếng to hỏi: “Sa Môn Cù
Đàm bảo tôi rằng: “Ân ái biệt ly khổ, oán ghét
gặp gỡ khổ, đây là khoái lạc, các ông nghĩ
sao?” Mọi người đều nói: “Ân
ái biệt ly, oán ghét gặp gỡ, có ǵ mà vui? Có
ǵ mà khoái lạc? Không đúng. Ông ta
lại nghĩ: “Sao lià ân ái lại có vui
ư? Không đúng, không đúng”.
Rồi ông đi vào thành Xá Vệ,
đứng ở chỗ cửa thành hoàng cung la to lên
rằng: “Sa Môn Cù Đàm bảo rằng: “Ân
ái biệt ly, oán ghét hội họp là khoái lạc”. Bấy giờ, trong thành từ người này
truyền qua người khác cho tới trong cung. Ngay
lúc đó, đại vương Ba Tư Nặc và phu nhân
Mạt Lợi đang ở trên lầu các, được
tùy tùng bẩm lại sự
việc như thế, Vua bảo Phu Nhân: “Sa Môn Cù Đàm
thật có nói: “Ân ái biệt ly, oán ghét hội họp
đều là khoái lac chăng?”, Phu Nhân nghĩ sao?”. Phu Nhân trả
lời: “Thiếp không nghe Thế Tôn dạy lời này,
nhưng nếu Ngài có dạy như thế cũng chẳng
phải là lời hư dối”. Vua bảo: “Ví như
thầy dạy đệ tử ”Làm
điều này, bỏ điều kia”, đệ tử
đáp: “Xin vâng, đại Sư”. Nay Bà
cũng như thế, Sa Môn Cù đàm nói lời như
thế mà Bà vẫn đồng ư nói rằng “không có hư
dối”. Vậy Bà hăy đi mau,
đừng ở trước mặt ta nữa”.
Sau
khi ấy, bà la môn Trúc Bác đến Kỳ Hoàn chỗ
đức Phật ngự, sau khi vái lạy ông bạch lên
đức Phật những điều Phu Nhân Mạt
Lợi đă dặn bảo rằng: “Thưa đức
Thế Tôn, phu nhân Mạt Lợi cúi lạy đức
Thế Tôn và kính chúc Thế Tôn luôn mạnh khỏe, giáo hóa
người mê muội không mệt mỏi. Phu Nhân tŕnh lên
Thế Tôn một việc mà người trong cung thành bàn
luận điều Thế Tôn đă nói rằng: ‘Ân ái biệt ly, oán ghét hội họp
đều là khoái lạc”. Chẳng hay Thế Tôn có dạy
như thế không? Xin Thế Tôn chỉ dạy để
con về thưa lại với Phu Nhân”.
Đức Phật bảo bà la
môn Trác Bát: “Trong thành Xá Vệ có một Trưởng giả
bị chết mất một đứa con mà ông ta rất
thương yêu, v́ thế, ông ta đâm ra điên cuồng loạn
trí, đi lang thang khắp nơi gặp ai cũng hỏi:
“Có thấy con tôi không?”. Vậy th́ ông nên
biết: “Ân ái biệt ly khổ, oán ghét hội
tụ khổ, đều không có hoan lạc cả”.
Ngày xưa trong thành
có người mất mẹ già, có người mất cha
già, có người mất anh chị em, hết thảy
đều vô thường, họ thấy sự vô
thường này sinh ra cuồng loạn chẳng biết
phương hướng. Cũng trong thành Xá Vệ,
ngày xưa một Trưởng giả gả chồng cho
con gái, hai vợ chồng con gái rất thương yêu ḥa
thuận, rủi người chồng làm ăn sa sút nghèo
khó, ông bà Trưởng giả bàn luận định
bắt con gái gả cho người khác, người
chồng biết được việc ấy, nên nói
với vợ “cả hai cùng chết”, rồi dùng dao bén
đâm vợ và tự đâm vào bụng ḿnh mà chết. Này
Bà La Môn, xét vậy mà biết ân ái
biệt ly, oán ghét hội tụ khổ, đây đều
là buồn khổ chẳng thể nói hết
được.
Bà la môn Trúc Bác thưa: “Đúng
vậy Thế Tôn! Có các thứ khổ năo này
thật chẳng vui. Sa Môn Cù Đàm nói
thật đúng như thế. Con xin cảm tạ
Thế Tôn, và xin kiếu từ”.
Bà la môn liền đứng
dậy vái chào, đi quanh Phật ba ṿng, rồi đi
đến chỗ Phu Nhân Mạt Lợi, tâu tŕnh đầy
đủ những lời đức Phật đă nói.
Phu Nhân liền đến chỗ
vua Ba Tư Nặc thưa:
“Thiếp có chỗ
muốn hỏi, mong Đại vương nghe rồi xin trả
lời từng việc một.
Xin hỏi: “Đại
vương có thương yêu vương tử Lưu Ly,
vương tử Y La chăng?”.
Vua đáp: “Ta rất thương
yêu các Vương Tử”.
Phu
Nhân hỏi: “Nếu các Vương tử bị chết
đi, Đại vương có sầu khổ không?”.
Vua trả lời: “Đúng
vậy, ta sẽ rất buồn khổ”.
Phu Nhân nói: “Như vậy ân ái biệt ly đều gây buồn khổ”.
Phu Nhân lại hỏi: “Đại
vương có
nhớ phu nhân Tát La Đà ḍng Sát Lợi không?”.
Vua đáp: “Rất nhớ”.
Phu Nhân lại hỏi: “Giả
thử phu nhân Tát La Đà có sự biến đổi
Đại vương có lo không?”
Vua
Trả lời: “Ta rất sầu lo”.
Phu Nhân nói: “Hăy lấy thí dụ
này mà biết ân ái biệt ly khổ, oán
ghét hội họp khổ, đều là buồn lo chẳng
thể vui được”.
Rồi Phu Nhân lại hỏi
tiếp: “Đại vương có yêu qúy nhân dân Ca Thi Câu Tát
La không? Giả thử trong nhân dân có biến
đổi Đại vương có lo buồn không?”
Vua nói: “Ta rất yêu thương tất
cả nhân dân, nếu có biến đổi th́ mạng ta
cùng chẳng c̣n. V́ sao? Ta nhờ nhân dân
mới được tồn tại, huống là chẳng
lo buồn ư?
Phu Nhân nói: “Lấy thí dụ mà
biết ân ái biệt ly đều là lo
buồn sầu khổ, không có vui vẻ”.
Bấy giờ vua Ba Tư Nặc
qùy gối phải chắp tay
hướng về phiá đạo tràng Kỳ Hoàn mà nói:
“Thật kỳ lạ! Thật kỳ lạ! Thế Tôn nói
pháp này, không phải pháp trước đây người ta
nói tin nhảm”.
Bấy giờ đức
Phật nghe (nghe bằng Thiên nhĩ) phu nhân Mạt Lợi
cùng vua Ba Tư Nặc bàn
luận, liền bảo các Tỳ Kheo: “Phu nhân Mạt
lợi rất thông minh, nếu Ta bàn luận cũng lấy
nghĩa như thế mà nói cho Vua, giống như Phu Nhân
đă nói không khác”.
Xuyên qua câu chuyện, chúng ta
thấy cùng là một sự việc nghe lời
người đồn đăi, vua Ba Tư Nặc có ngay
kết luận rằng lời Phật nói như thế là
không phải, không thể chấp nhận được;c̣n
phu nhân Mạt Lợi lại khác, bà cho rằng nếu
qủa thật đức Phật có nói như thế th́
phải có lư do để nói, nên bà đă nói: “Thiếp không
nghe Thế Tôn dạy lời ấy, nhưng nếu Ngài có
dạy như thế cũng chẳng phải lời hư
dối”. Phu nhân đă đặt ḷng tin
tuyệt đối vào đức Phật, v́ sao? V́
từ bấy lâu bà đă từng nghe rất nhiều
lần đức Phật thuyết pháp, bà đă học
hỏi được rất nhiều ở nơi Ngài, và không
hề thấy một lời nói nào sai trái cả, nên bà
đă có tín tâm kiên cố đối với đức
Phật. Khi bị Vua chê bai, bà không phản ứng mà liền
cử người đi gặp đức Phật
để hỏi cho rơ sự việc thực hư. Khi
đă biết chắc chắn sự việc rồi bà liền
gặp Vua, bà nói về nghĩa yêu thương chia ly
khổ, oán ghét hội họp khổ không vui, để
giải thích cho Vua một cách khéo léo làm cho Vua tỉnh
ngộ, đó là việc làm của người trí vậy.
Toàn Không