Lược sử
Phật Thích Ca Mâu Ni
Toàn Không
Phần I :
Từ Đản Sinh tới Thành Đạo
Đản sinh
Năm 623 trước Dương lịch, vào ngày
trăng tṛn tháng năm, tức là ngày rằm tháng tư Âm
lịch, tại vườn Lâm Tỳ Ni (Lumbini) xứ
Ấn Độ, nay thuộc nước Tích Lan (Nepal)
ở gần chân núi Hi Mă Lạp Sơn (Himalaya) cách thành Ca Tỳ
La Vệ (Kapilavatthu) khoảng 15 cây số. Hoàng hậu Ma Da
(Mahă Măyă) của Vua Tịnh Phạn (Suddho dana) thuộc
chủng tộc qúy tộc Thích Ca (Sakya) họ Cù Đàm
(Gotama) hạ sinh một Hoàng tử.
Sau khi sinh được bảy ngày Hoàng hậu
băng hà sinh lên cơi trời Đâu Xuất. Vua
Tịnh Phạn giao Hoàng tử cho em gái ruột của Hoàng
hậu là Ma Ha Bà Xà Ba Đề (Mahă Pajăpati) là kế mẫu
nuôi dưỡng chăm sóc.
Tin Hoàng tử chào đời
được loan truyền trong nhân gian, thần dân vui
mừng. Vua mời một số đạo sĩ
đến để coi tướng, các đạo sĩ
đều nói Hàng tử có 32 tướng tốt, trên
đời chưa thấy ai có. Nếu sau này làm vua sẽ
là một Hoàng Đế anh minh, c̣n nếu xuất gia
học đạo sẽ là Thánh, một vĩ
nhân. V́ vậy Vua đặt tên là Sĩ
Đạt Ta (Siddhartha) có nghĩa là toại nguyện.
Vua cũng phong cho Sĩ Đạt Ta là sẽ
nối ngôi vua sau này, nên gọi là Hoàng Thái tử Sĩ
Đạt Ta.
Tuổi niên thiếu:
Hoàng Thái tử mỗi năm mỗi
lớn, diện mạo càng thêm khôi ngô tuấn tú, tài năng
phát triển vượt bực. Hoàng Thái
tử có một sức khoẻ cường tráng, một
trí óc thông minh xuất chúng, từ văn đến vơ, các
trai tráng trong hoàng tộc không ai sánh kịp. Học thầy nào cũng chỉ trong một
thời gian ngắn là học hết quyền thuật
chữ nghĩa của thầy. Mặc dù tài sức
hơn người, nhưng Hoàng Thái tử không bao giờ
tỏ ra kiêu ngạo khinh người, mà trái lại có
một thái độ nhă nhặn, thương người,
thương vật, vô tư b́nh đẳng. Nên Hoàng Thái
tử được Vua thương yêu, qúy mến,
chiều chuộng; những người chung
quanh mến trọng nể v́.
Lễ Hạ Điền:
Một hôm, nhân ngày lễ Hạ Điền (lễ
bắt đầu làm ruộng của nhà nông trong một
năm) vào ngày đầu xuân, Hoàng Thái tử theo
Vua cha ra đồng. Mọi người vui
vẻ với buổi lễ trong cảnh gió xuân nắng
ấm hoa lá tốt tươi, muôn chim hót vang trong cảnh
êm đẹp thái b́nh. Trong khi mọi
người mải vui với buổi lễ như
thế, Hoàng Thái tử ngồi một ḿnh bắt chéo hai
chân như người ngồi thiền dướt bóng cây.
Hoàng Thái tử nghĩ rằng những cảnh đẹp,
chứ thực ra không phải thế, như trâu ḅ khổ
cực kéo cày, người nông dân phải làm việc
cực khổ, chân lấm tay bùn
để có cơm ăn áo mặc. Hoàng Thái tử suy
nghĩ trầm tư như thế rồi vào định
tâm . . .
Thành hôn:
Hoàng Thái tử một ngày một lớn, các việc
học hành tập luyền đều chu
toàn đầy đủ. Thấm thoắt Hoàng
Thái tử đă 16 tuổi có dáng của một thanh niên khôi
ngô tuấn tú. Vua Tịnh Phạn muốn con ḿnh
sẽ nối ngôi sau này nên ép Hoàng Thái tử thành hôn với
Công chúa Da Du Đà La (Yasodha) thật là đẹp đẽ
nết na chu toàn cùng tuổi. Vua cho lập cung
điện bốn mùa thay đổi, chọn các mỹ
nữ trẻ đẹp hầu hạ Hoàng Thái tử.
Chung quanh cung điện là ao hồ,
vườn cây luôn tươi tốt xanh tươi, hoa lá
rực rỡ như cảnh thần tiên. Đời
sống vương giả thật là đầy đủ,
cao lương mỹ vị, đàn ca múa hát, ngày đêm có
người luân phiên chầu chực hầu hạ, lên xe xuống ngựa trong hoàng thành rộng
lớn.
Cuộc đời nhung lụa sung sướng
với vợ đẹp hiền ngoan như thế đă
trên mười năm, mọi người tưởng
rằng Hoàng Thái tử sẽ tiếp tục sống măi
như thế tới ngày Vua cha truyền ngôi để tŕ
v́ đất nước. Rồi Công Chúa sinh con trai tên La
Hầu La, Vua Tịnh Phạn càng thêm vui mừng, v́ có thêm
sự ràng buộc Hoàng Thái tử hơn nữa. Mặc dù
sống đời sung sướng, vợ đẹp, con
ngoan, Hoàng Thái tử vẫn thấy trong ḷng nặng trĩu
nỗi băn khoăn thắc mắc đời sống
thật sự bên ngoài hoàng thành.
Nhận rơ cảnh khổ:
Một hôm, Hoàng Thái tử xin Vua cha cho
người hướng dẫn đi dạo ra ngoài
cửa thành ngắm cảnh. Ra đến cửa
Đông, Ngài thấy một ông già đầu bạc
trắng, lưng c̣ng, răng rụng, lần bước
đi một cách khó khăn. Đến
cửa
Mấy ngày sau, Hoàng Thái tử lại xin đi dạo
chơi lần nữa, lần
này ra cửa Bắc, Ngài thấy một người
ngồi dưới gốc cây có dáng mạo nghiêm trang,
thản nhiên không để ư các người qua lại.
Thấy vậy, Ngài thấy có một sự cảm mến
với vị ấy, và hé nảy sinh con đường
cứu bệnh khổ già chết trong tâm tư.
Ngài liền trở về cung thưa với
Vua cha xin xuất gia học đạo, nhưng bị
từ khước. Hoàng Thát tử tŕnh Vua bốn
sự việc nếu Vua giải quyết được
th́ Ngài sẽ bỏ việc học đạo, đó là:
1-
Làm sao trẻ măi
không già,
2-
Làm sao khỏe măi
không bệnh,
3-
Làm sao sống măi
không chết,
4-
Làm sao mọi
người hết khổ.
Vua nghe Ngài hỏi như thế th́ buồn rầu
không giải quyết được, và nói: “Những
việc đó là thường ở đời,
đương nhiên là phải như thế, không có cách nào
giải quyết được, đành chịu mà thôi”.
Xuất gia t́m đạo:
Lúc này, Vua lại t́m đủ cách để giữ
chân Hoàng Thái tử, nhưng từ khi thấy bốn
cảnh ở bốn cửa thành, Ngài đă t́m ra
được giải đáp: “Ở đời là khổ,
tất cả chỉ là tạm bợ, ngay cả cái thân ta
mai này cũng sẽ vào cát bụi. Ta phải t́m chân lư
để cứu ḿnh và cứu tất cả chúng sinh”. Ngài
đă nhất quyết trong ḷng con đường t́m chân lư
giải thoát. Cung vàng điện ngọc, địa vị
giàu sang, vợ đẹp con ngoan v.v…. không thể sánh
với sự giải thoát to lớn và cứu độ
chúng sanh khỏi đau khổ.
Trong một đêm khuya, mọi người đang
trong giấc ngủ say sưa, Hoàng Thái tử Sĩ
Đạt Ta nh́n vợ con đang an giấc, rồi cùng
với người giữ ngựa lặng lẽ rời
khỏi hoàng thành trong đêm tối, lúc đó Ngài 29
tuổi, tuổi tráng niên cường lực, dứt
bỏ hết để ra đi t́m đạo với hai
bàn tay trắng, để sống một cuộc
đời chưa biết sẽ ra sao.
Sáng hôm sau, khi đă vượt qua sông
Anomă (Neranjară), Ngài dừng chân trên băi cát, tự cạo râu
tóc và trao áo măo (mũ) cho người giữ ngựa đem
trở về tŕnh Vua. Ngài khoác vào ḿnh
tấm vải vàng cam làm áo, tự nguyện sống
đời tu sĩ, và chấp nhận mọi sự
thiếu thốn vật chất. Từ người
sống trong nhung lụa giàu sang quyền qúy, bỗng nhiên
trở thành người đi lang thang
trong nóng nực, lạnh lẽo, như người bất
định trong sương gió. Đầu đội
trời, chận đạp đất, không giày dép mũ
nón, chỉ một mảnh vải che thân, không nhà không
cửa, đạo sĩ Cù Đàm lấy bóng cây hang đá
là nhà để tránh nắng che mưa, mang bát đi khất
thực mà sống v.v…
T́m đến học đạo với một
đạo sĩ, học hết những ǵ đạo
sĩ ấy có vẫn không đạt được ǵ
cả, đạo sĩ Cù Đàm rời vị ấy t́m
đến một vị thứ hai, học hết và cũng
chứng qủa vị mà vị thứ hai được,
những chưa phải là chân lư. Vị
thứ hai mời ở lại cộng tác dạy đám
đệ tử, nhưng Ngài từ chối và rời
vị thứ hai, t́m đến vị thứ ba, học và
chứng những ǵ vị thầy chứng. Vị
thầy thứ ba nhường cho đạo sĩ Cù
Đàm làm đạo sư hướng dẫn các
đạo sĩ ở đó, nhưng sự chứng không
giải quyết được những điều mà Ngài
mong muốn, do đó Ngài lại ra đi.
Tu khổ hạnh:
Bấy giờ, đạo sĩ Cù Đàm nghĩ
rằng: “Ta đă đi t́m hết các nơi, không có một
ai đủ khả năng dẫn dắt ta thành tựu
mục tiêu mà ta mong muốn, v́ chưa ai ra khỏi sự vô
minh”. Ngài bèn đi đến vùng ngoại thành Vương
xá tự tu tập một ḿnh, lúc ấy có đạo sĩ
Kiều Trần Như là đạo sĩ trẻ nhất
trong số đạo sĩ được Vua Tịnh
Phạn mời xưa kia khi mới sinh Hoàng tử Sĩ
Đạt Ta, ông nghe tin Hoàng Thái tử đă xuất gia
học đạo, nên dẫn bốn người
đồng tu t́m đến gặp Ngài để cùng tu.
Thời bấy giờ, người ta có quan niệm
“Chỉ có tu khổ hạnh mới giải thoát
được”, nên ông Kiều Trần Như
đă thuyết phục Ngài nhập chung với năm
người cùng tu khổ hạnh. Do đó đạo
sĩ Cù Đàm đă khép ḿnh để cùng tu trong thời gian
dài trên năm năm khổ hạnh. Từ
một thân h́nh cường tráng khỏe mạnh dần
dần cho đến một thân h́nh chỉ c̣n da bọc
xương. Dùng vô số phương tiện của
khổ hạnh để tu, Ngài chỉ ăn rau cỏ
để thiền, nhịn thở để thiền,
chỉ ăn một vài hạt đậu và một ít
nước mỗi ngày để thiền v.v… Thân h́nh đạo
sĩ Cù Đàm trở nên gầy c̣m đến nỗi xương
bàn tọa ngồi như móng con lừa, xương
sống như xâu chuỗi hột, lưng c̣ng xuống,
xương sườn tựa như sườn nhà bị
đổ, hai mắt như sao dưới đáy giếng
sâu thẳm. Khi sờ da bụng th́
đụng xương sống, đi lại té tới ngă
lui, Ngài cứ phải đập nhè nhẹ vào thân làm cho
tỉnh táo, th́ lông từ da rơi xuống lả tả.
Nước da trước kia hồng hào
tươi mát, lúc đó chỉ c̣n thấy là màu sạm
đen như da người chết!
Tu Trung đạo:
Mặc dù khổ hành đến
cùng cực như thế, mặc dù không ai tinh tấn bằng
đạo sĩ Cù Đàm, các đạo sĩ vẫn cho là cần phải
tiếp tục khổ hạnh để đạt chân lư.
Thấy rơ ràng sau khi trải qua thời gian dài khổ
hạnh như thế, cái chết đă gần kề,
đạo qủa chân lư chẳng thấy đâu, trí
thức suy giảm, tinh thần mệt mỏi, Ngài
quyết định dứt khoát từ bỏ lối tu
khổ hạnh. V́ cần có một thân h́nh khỏe mạnh,
một trí óc sáng suốt để suy gẫm đạt
chân lư, nên Ngài bắt đầu dùng vật thực thô
sơ trở lại.
Năm vị đạo sĩ
đồng tu thấy thế liền chê trách “đạo
sĩ Cù Đàm không đủ kiên nhẫn”, liền bỏ
đi. Không v́ thế mà thối chí ngă ḷng,
một ḿnh Ngài trong chốn rừng sâu tu tập.
Đi đến dưới gốc cây Bồ
Đề lấy cỏ làm nệm ngồi thiền
định, Ngài thề nguyện rằng
“nếu không đạt chân lư dù thịt nát xương tan ta
cũng không rời khỏi chỗ này”. Ngài đă liên
tiếp trải qua nhiều gian nan
thử thách về nội tâm tham, sân, si, mạn, nghi v.v… Rồi sau lại phải chiến đấu
với ngoại cảnh Thiên ma dùng đủ mọi tà pháp
ḥng cản trở Ngài việc thiền định. Rút cục, Ngài chiến thắng cả nội tâm
lẫn ngoại cảnh, tâm trí được yên ổn
trong thiền định.
Thành Đạo:
Trong đêm thứ 49, vào khoảng 10 giờ lúc canh hai,
Ngài chứng “Túc mạng minh”, thấy rơ tất cả các
đời qúa khứ một đời, hai đời, ba
đời, mười đời, trăm đời, ngh́n
đời. Sinh chỗ này, tên là ǵ, cuộc
sống ra sao, chết sinh vào đâu v.v…, tất cả
đều bết hết. Tiếp tục thiền
định, tới khoảng nửa đêm lúc canh ba, Ngài
chứng “Thiên nhăn minh”, thấy được tất
cả bản thể vũ trụ, biết cấu tạo
thế giới vũ trụ thành trụ hoại diệt
như thế nào, đều biết hết thảy.
Vẫn kiên cố hành thiền tam muội, đến
khoảng 2 giờ sáng lúc canh tư, Ngài chứng “Lậu
tận minh”, vô lậu, sạch hết trần cấu,
biết rơ Khổ, nguồn gốc của đau khổ,
cách trừ đau khổ, và con đường đạo
qủa viên măn. Ngài tự biết: “Ta đă giải thoát,
không c̣n tái sinh nữa, tu hành viên măn, việc làm đă xong,
không c̣n trở lại trạng thái khi xưa nữa”.
Ngài từ từ mở mắt to ra chợt thấy
sao Mai lấp lánh, hốt nhiên Toàn Ngộ, thấu triệt
cùng khắp chân lư vũ trụ, thần thông quảng
đại, Ngài đạt Đạo Vô Thượng, thành
bậc “Chính Đẳng Chính Giác”nên được gọi
là bậc Toàn Giác, Như Lai, hiệu Phật Thích Ca Mâu Ni.
Đức Phật có đủ
sáu Đại:
Lúc này, đúng 35 tuổi, sau 6 năm chịu đựng
biết bao gian khổ thử thách, Ngài đă chiến
thắng oai hùng vẻ vang. Những vị anh hùng trong nhân
loại, đă có ai chiến thắng được nội
tâm ḿnh? Có ai chiến thắng được
ḷng dục vọng của chính ḿnh? Cho
nên, chiến thắng người đă khó, mà thắng ḿnh
lại càng khó hơn, Ngài xứng đáng là bậc
Đại Hùng, Đại Lực.
Không v́ ḿnh, bỏ hết tất cả, mà v́ chúng sanh,
v́ t́nh thương nhân loại, muốn cho chúng sinh thoát
khổ được vui, nên đă đi t́m chân lư, Ngài
xứng với danh hiệu Đại Từ Đại Bi.
Bỏ
hết để dấn thân vào cảnh cùng cực khổ
sở, nhưng không thấy khổ, chẳng hề hối
tiếc muốn quay lại đời sống vương
giả, Ngài xứng với danh hiệu Đại hỷ,
Đại Xả.
Các điều Phật dạy
cần ghi nhớ:
Như hoa sen thơm, từ bùn dơ lên không nhiễm
mùi bùn, không bao giờ tự gọi hay cho người khác
gọi Ngài là “Đấng Cứu Thế”. Ngài
kêu gọi mọi người tự giải thoát lấy
ḿnh, v́ mỗi người đều có trong sạch và bùn
nhơ, nếu diệt hết bùn dơ rồi th́ chỉ
c̣n trong sạch, tức là giải thoát vậy.
Ngài chỉ mọi người “hăy
tự thắp đuốc lên mà đi, hăy tự
nương tựa nơi chính ḿnh, đừng nương
tựa vào một nơi (mơ hồ) nào khác”.
Là người phủ nhận Thần linh,
nhưng không có ai có đặc tính Thần linh hơn Ngài.
Biết bao nhiêu sự việc xảy ra từ khi thành
đạo tới lúc nhập Niết Bàn đă chứng
tỏ Thần linh của Ngài thật quảng đại, tuyệt
vời, không thể nghĩ bàn, nhưng chẳng bao giờ
Ngài tự xưng là Thần linh.
Thay v́ tự đặt ḿnh vào Thần linh vạn
năng để cho Trời Người khép nép sợ
sệt, Ngài đă chứng tỏ cho tất cả Trời
Người đều có thể đạt qủa tối
thượng bằng sự cố gắng của ḿnh.
Ngài chống đối sự phân chia giai cấp v́
sẽ làm cản trở bước tiến của loài
người, và chủ trương b́nh đẳng, chê bai
chế độ nô lệ, lên án phong tục cổ hủ,
giết súc vật cúng Thần linh, Ngài chủ trương
cứu giúp tất cả chúng sinh.
Ngài khuyên không nên tin mù quáng, dù đó là do niềm tin
của cha ông truyền lại, dù đó là do phong tục,
sách vở, dù đó là lời của đại sư nói, mà
phải suy xét thực hư, nghiên cứu, suy niệm
bởi chính ḿnh.
Mỗi lời dạy của đức
Phật là một bài học vô cùng qúy giá, chúng ta nên học
và hành, những ai trên thế giới này không biết
đến những lời dạy của Ngài, thật là
thiệt tḥi đáng thương thay.
Phần II: Từ Thành Đạo đến
nhập Niết Bàn
Đức Phật hành
Đạo
Sau khi thành Đạo, đức
Phật quán khắp Vũ trụ, Ngài thấy có vô
lượng thế giới, quán chúng sinh ngài biết
mỗi chúng sanh đều có Phật tính (tánh). V́ chúng sinh ngụp lặn trong si mê tối tăm
nên phải trầm luân trong biển sinh tử luân hồi
không có ngày ra khỏi. Ngài quán và biết rằng con
người hiểu được giáo lư nếu Ngài nói ra,
và có người kham nhận được sự tu hành.
Do đó, đức Phật quyết định sẽ giáo
hóa chúng sinh cho dù có khó khăn như thế nào đi
nữa, Ngài cũng phải làm nhiệm vụ của
bậc Phật như tất cả Phật trong Vũ
trụ đă làm, đang làm và sẽ làm
để dẫn dắt chúng sanh ra khỏi khổ đau
và được giải thoát. Sự hoằng pháp của
đức Phật trên ba nguyên tắc:
I )- Hành Đạo theo thứ
lớp:
Bắt
đầu đức Phật nghĩ đến việc
độ cho các bậc thiện tri thức là những
người không c̣n nhiều trần cấu. Nghĩ đến đạo sĩ Alamara Kalama là
vị đạo sư mà lần đầu tiên Ngài t́m
đến tham học. Ngài dùng tuệ
nhăn được biết vị này mới từ trần
bảy ngày. Đức Phật lại nghĩ
đến Uddaka Ramaputta là vị đạo sư thứ
ba, dùng mắt Phật nh́n, Ngài thấy vị này cũng
vừa mới qua đời mới có một ngày!
1- Ba tháng đầu : Đức Phật nghĩ đến năm
vị đồng tu
khổ hạnh trước kia, Ngài bèn đi đến
vườn Lộc Uyển xứ Benares gặp năm
vị này là Kiều trần Như (Kondana), Bạc
Đề (Bhaddiya), Thập Lực (Vappa), Ma ha Nam (Mahănăma),
và Ác Bệ (Assaji).
Lúc đầu, tất cả năm
vị thấy đức Phật đến đều
tỏ ra không ưa, nghi ngờ và chỉ trích lối
sống của Ngài. Đức Phật phải
giải thích đến lần thứ ba rằng: ‘Không có
vấn đề sống xa hoa trở về đời
sống lợi dưỡng, Ta chỉ làm sao cho thân thể
đủ sức chịu đựng để hành
thiền kiên cố mà thôi. Đó là con đường trung
đạo cần phải theo, và bây
giờ Ta đă thành Đạo, đạt qủa vô sinh
bất diệt, nếu người nào hành đúng như
lời Như Lai dạy cũng sẽ chứng ngộ. Hơn nữa, nếu Như Lai không biết các ông
ở đâu, làm sao Như Lai t́m đến đây
được? Vả lại, Ta
chẳng bao giờ nói những lời này với các ông
trước đây, như vậy các ông đủ hiểu
rồi”. Bấy giờ năm vị
mới tin, bỏ lối tu khổ hạnh và nghe Giáo pháp
của Ngài.
Bài giảng đầu tiên là “Bốn Diệu đế”, do “Sinh lăo bệnh
tử” nên khổ, muốn khỏi khổ phải t́m nguyên
nhân của khổ là do “Tham, sân, si …”, và phải diệt
khổ bằng “Tám Chính đạo” là “Chính Kiến, Chính
tư duy, Chính ngữ, Chính mệnh, Chính nghiệp, Chính tinh
tấn, Chính niệm, và Chính định”. Cả
năm vị học và hành tŕ dần đều đắc
quả Thánh, nhưng vị đắc qủa A La Hán (Ariya
có nghĩa là cao qúy) đầu tiên là Ngài Kiều Trần
Như.
Thời ấy, tại Ấn Độ, ngoài quan
điểm sống theo lối khổ
hạnh để giác ngộ, c̣n có quan niệm cho rằng
con người chết là hết, linh hồn và thân xác tan
biến, tất cả chẳng c̣n ǵ. Hăy ăn
uống tận hưởng mọi lạc thú ở
đời, không cần biết đến đạo
đức, khoái lạc là thực tế, không cần
phải kiểm soát dục vọng. Không có luân hồi, không
có tái sinh, không có qủa báo thiện ác, tất cả
chỉ là bản năng tự nhiên mạnh được
yếu thua v.v… Do đó, đức Phật đă phải
đối phóvới các quan điểm sai lầm
ấy.
Sau khi có năm đệ tử, đức Phật
giáo hóa 55 Bà la môn
mà ông Da xá (Yasa) là người dẫn đầu.
Số người này cùng với năm
vị đầu tiên hợp lại là 60 vị học
về Bốn Diệu đế và Tám Chính đạo.
Cha mẹ và vợ của ông Da Xá là Phật tử tại
gia đầu tiên của đức Phật. Sau ba tháng 60
vị đệ tử Phật đầu tiên này đă hành
tŕ vững chắc đều đắc A la Hán và giữ
giới luật đầy đủ, đức Phật
thọ kư và cho các vị ấy đi hành đạo các
nơi.
2- Thu nhận hàng loạt đệ tử: C̣n Ngài đi xuống phiá Nam đến
xứ Ưu Đầu Tuần La thu phục Rồng phun
lửa dữ, giáo hóa người đứng đầu
Đạo thờ Thần lửa là ông Ma Ha Ca Diếp
(Uruvelă Kassapa), vị này đem 500 đệ tử cùng xin
xuất gia theo đức Phật tu hành. Vị này có hai
người em đều ở mỗi người một
nơi, một người tên Nadi Ca Diếp (Nadĩ Kassapa)
có 300 đệ tử, và Gaya Ca Diếp (Gayă Kassapa) có 200
đệ tử. Cả hai người này cũng thờ
Thần lửa, khi thấy người anh đă theo đức Phật tu hành, hai người
này cũng cùng với đệ tử của họ
đến theo Ngài tu hành.
Ngài giảng cho 1000 đệ tử này về:
mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ư
nằm trong lửa. Lửa từ tham ái, sân hận, si
mê, sinh già bệnh chết, buồn phiền, đau khổ,
tuyệt vọng. Hăy quán nhàm chán h́nh sắc,
chán âm thanh, chán hương vị xúc, chán luyến ái.
Do sự nhàm chán dứt khoát ấy, được giải
thoát. Tất cả hành tŕ dũng mănh nên đều
chứng qủa Thánh.
3- Thiết lập Tăng đoàn: Sau khi thu nạp hơn 1000 đệ tử,
đức Phật đến nước Ma Kiệt
để thực hiện việc hứa với Vua
Tần Bà Xa La là “Khi đắc Đạo sẽ trở
lại”.Khi Vua biết Ngài đă đắc Đạo rồi
th́ mừng rỡ vô cùng và cho xây Đạo tràng Trúc Lâm, mời Ngài và
Đại chúng ở lại hành Đạo. Có
chỗ trú nhất định, đức Phật lập
Tăng đoàn từ đây.
Lúc ấy, Xá Lợi Phất (Upatissa) và Mục Kiền
Liên (Kolita) cư ngụ gần thành Vương Xá (Răjagaha),
là bạn với nhau, có chí học đạo, đă t́m
đến nhiều thầy, và học hết chữ
thầy rồi cũng chưa thỏa măn. Một hôm, Xá
Lợi Phất thấy một Sa Môn đang đi khất
thực trong thành Vương Xá với oai nghi của
bậc Thánh nhân khác thường, nên để ư và
đến hỏi. Vị này cho biết tên là Ác Bệ
(Assaji) và qua câu chuyện, Xá Lợi Phất được
Tôn giả Ác Bệ cho biết giáo pháp vắn tắt đă
học là “Tất cả ở đời đều do
một nhân, Như Lai chỉ rơ nhân ấy và cách diệt,
đó là giáo huấn của vị Đại Sa Môn”. Nghe những lời ấy, Xá Lợi Phất
thấy trí tuệ bừng sáng, nên hỏi tiếp và
được biết vị Đại Sa Môn đang
ở rừng Trúc.
Xá Lợi Phất liền đến t́m Mục
Kiền Liên nói lại cơ duyên của ḿnh và nói lại những
lời Tôn giả Ác Bệ đă nói, Mục Kiền Liên nghe
rồi cũng tỏ sáng vô cùng. Hai người hân hoan
đem theo một số bạn đến Trúc Lâm xin
xuất gia học đạo, đều được
đức Phật thu nhận, và chỉ trong ít ngày cả
hai vị đều đắc A La Hán, được
đức Phật ấn khả cho hai vị Tôn giả Xá
Lợi Phất và Mục Kiền Liên là thượng
thủ bậc nhất.
4- Trở về thăm quê hương: Lúc ấy vua Tịnh Phạn (Suddhodana) nghe
tin Ngài đă thành Phật, liền sai sứ giả đi
mời Ngài về thành Ca Tỳ La Vệ (Kapilavathu), nhưng
chín lần cử chín sứ giả đi mà không có
người nào trở lại, v́ các vị này đến
được đức Phật thuyết pháp nghe rồi
ở lại luôn xin xuất gia học Đạo. Tới
vị thứ mười tên Tu Đà Di (Kăludăyi), vị này
cũng ở lại học đạo, nhưng vẫn
nhớ lời Vua, nên thỉnh Phật về thăm Vua
đă già yếu.
Dọc đường trở về
nơi sinh thành trong hai tháng, gặp người nào
đức Phật cũng giáo hóa độ cho hết
thảy. Khi về tới thành Ca Tỳ
La Vệ, đức Phật chỉ ở lại có bảy
ngày, nhưng đă giáo hóa tất cả hoàng gia.
Tại đây lúc đầu v́ có sự nghi ngờ của
các bậc cao niên, nên Ngài đă dùng thần thông bay ngồi
trên không, làm lửa và nước từ toàn thân phát ra. Sau
đó có nhiều vị trẻ trong hoàng gia theo Ngài xuất
gia tu đạo, như Nan Đà, A Nan Đà, A La Luật, La
Hầu La là con ruột của Ngài lúc ấy mới bảy
tuổi, v.v…
Sau đó đức Phật gặp Trưởng
giả Cấp Cô Độc là người giầu có
bậc nhất tại nước Xá Vệ phát tâm rộng
lớn xây cất Đạo tràng Kỳ Hoàn ở phiá
Bắc Ấn Độ để cúng dàng Ngài và đại
chúng Tăng.
Không bao lâu sau, đức Phật
biết Vua cha bệnh sắp qua đời liền về
thăm, thấy Vua buồn rầu, Ngài nói về lư “vô
thường, khổ, không, vô ngă”. Nghe
xong, gương mặt vui tươi, Vua cất tiếng
niệm Phật rồi băng hà nhẹ nhàng. Sau khi
Vua Băng hà, Hoàng hậu Ma ha Bà Xà Ba Đề (Mahă
Pajăpaĩ) có con trai la Nan Đà (Nanda) đă xuất gia, và con
gái tên Nan Đề (Nandă) (về sau cũng xuất gia), xin xuất gia lấy
tên là Đại ái Đạo. Công chúa Da Du
Đà La là vợ của Thái tử Sĩ Đạt Ta
cũng xin xuất gia. Bà Đại Ái Đạo
nhờ Tôn giả A Nan xin giùm nên đức Phật chấp
nhận cho bà được xuất gia và thành lập Ni
đoàn với điều kiện phải tuân thủ
những giới luật do đức Phật đặt
ra.
II )- Tùy phương tiện:
Trong suốt đời đức Phật hành
đạo, không phải lúc nào cũng thuận buồm xuôi
gió, có những lúc Ngài phải đương đầu
với những khó khăn chống đối, sự
chống đối này thường là do những
đạo sư của những ngoại đạo, tà
đạo mê tín, và ngay cả những người muốn
tranh giành ảnh hưởng với Ngài, nhưng tất
cả đều được Ngài giải quyết êm
xuôi.
1- Đối phó với khó khăn: Như có lần bị Bà la môn chửi
bới thậm tệ, Ngài làm thinh không trả lời,
chửi bới một lúc thật lâu không thấy
đức Phật phản ứng ǵ cả, người
ấy hỏi: “Sao ông bị chửi như thế mà không
trả lờ́?”, Ngài hỏi lại để đáp:
“Nếu ông đem tặng qùa cho người khác mà
người đó không nhận th́ qùa ấy thuộc về
ai?”. Người ấy trả lời: “Qùa ấy thuộc
về tôi”. Ngài bảo: “Lời ông chủi từ năy
đến giờ tôi không nghe, không nhận, trả lại
cho ông”, lúc đó người ấy mới thôi chửi.
Cũng có trường hợp tương tự như
thế, nhưng đức Phật trả lời cách khác là : “Những lời chửi rủa cũng
như người nhổ nước bọt từ
miệng phun bắn ra ngược chiều gió, chỉ làm
dơ mặt người nhổ mà thôi”.
Có lần, con gái của ngoại đạo mang cái
bụng to tướng đến la lối trước
mọi người rằng “Cái bào thai trong bụng mà tác
giả là Sa Môn Cù Đàm”, và đ̣i phải giải quyết
ổn thỏa việc này. Đức Phật
chỉ làm thinh, miệng mỉm cười. Rồi Ngài dùng thần thông làm rớt cái bụng
giả của cô gái ra, mọi người cười
ồ, cô gái thấy thế th́ xấu hổ cúi đầu
đi mất, không dám nh́n lại.
Trong hạ thứ 20, đức Phật gặp
Angulimala là người đă chặt 999 ngón tay của 999
người, Ngài dùng thần thông khiến kẻ ác không
thể đuổi bắt Ngài được đến
kiệt sức mà phải thốt lên: “Sa Môn, hăy dừng
lại”. Ngài đáp: “Ta đă dừng từ lâu, c̣n ông
chưa dừng bước”. Angulimala nói: “Tôi đă dừng
rồi, c̣n Sa Môn c̣n đi, tại sao ông lại nói rằng
tôi không dừng, c̣n ông đă dừng? Tại
sao ông nói thế?” Ngài đáp: “Như lai đă dừng
luôn và măi măi, Như Lai đă dứt bỏ không c̣n hành hung
một sinh vật nào, c̣n ông tiếp tục sát hại
đồng loại với bàn tay đẫm máu, v́ vậy
Như Lai đă dừng và ông chưa dừng”. Nghe
đến đó, Angulimala quăng bỏ hết vũ khí,
đi đến gần đức Phật xin Ngài chấp
thuận cho được theo học
đạo, và đă được Ngài chấp thuận. Về sau Angulimala tinh tấn hành tŕ và đắc
qủa A La Hán.
2- Chấn chỉnh Tăng đoàn: Ngay cả trong Tăng đoàn, cũng có
nhiều vấn đề, như lúc đầu Tăng
chúng ăn uống không có khuôn khổ chừng mực,
ăn sáng, ăn trưa, ăn chiều, ăn tối,
ăn mặn đủ cả. Đức Phật căn
cứ vào những sự phiền hà và sự cần
thiết cho việc tu hành mà dần dần Ngài lập ra
giới cấm càng ngày càng đầy đủ chặt
chẽ hơn như chỉ ăn chay
mỗi ngày một bữa trước buổi trưa.
Một việc xảy ra do Đề Bà Đạt
Đa là em con chú và là em vợ của Thái tử Sĩ
Đạt Ta, v́ muốn giành quyền đứng đầu
Tăng đoàn mà đă làm nhiều việc không hay
đối với đức Phật, như lăn đá trên
sườn núi, dùng voi say, hay bôi thuốc độc vào móng
tay để hại Ngài, nhưng đều thất
bại, để đến nỗi phải chết và
đọa vào Địa ngục.
Đối với việc tu hành của tu sĩ,
đức Phật đă tùy trường hợp mà giải
quyết, chứ không nhất thiết phải theo một đường lối nhất
định cho mọi người. Đối với
người thông minh hay đần độn, Ngài
đều có những cách khác nhau để hướng
dẫn. Như Tôn giả Chu Lợi Bàn Dặc Ca đần
độn tụng một bài kệ bốn câu trong ba tháng
không thuộc, khi sai đầu, khi quên đuôi, đức
Phật thấy thế ban cho cách “đếm hơi thở
ra vào lần đầu đếm một, hơi thở ra
vào lần thứ hai đếm hai, cứ thế
đếm đến mười, rồi lại
đếm từ một đếm mười như
thế măi măi”. Sau đó ít lâu Tôn giả thấy tâm thanh
tịnh không một gợn sóng, v.v…,được
Phật chứng cho đạt bậc Thánh.
Tôn giả Đà La Nan Đà thường hay loạn
động v́ nghĩ đến tham dục, đức
Phật dạy quán tướng trắng trên đầu chót
mũi. Tôn giả La Vân hay buồn phiền lo nghĩ,
đươc đức Phật dạy quán biết
hơi thở ra dài biết hơi thở ra dài, hơi
thở vào dài biết hơi thở vào dài, hơi thở ra
ngắn hay lạnh, hay nóng, đều biết hơi
thở ra ngắn hay lạnh, hay nóng v.v… Cả
hai Tôn giả chỉ trong thời gian ngắn là đắc
qủa A La Hán.
III )- Theo tinh thần b́nh đẳng:
Tinh thần b́nh đẳng là một điểm son
trong giáo lư cũng như thực hành của đức
Phật. Trong Tăng đoàn có đủ các thành phần
trong xă hội, từ người thuộc giai cấp cao
nhất như hàng hoàng gia quyền bính, Ba la môn qúy tộc,
đến hàng dân giả nghèo túng thấp nhất
đều có mặt.
Các thời nói Kinh:
Sự nói Kinh được các Phật tử sau này
chia ra làm năm thời như sau:
1/- Thời thư nhất: Đức Phật nói Kinh Hoa Nghiêm, khi
mới thành đạo, Ngài nói Kinh này để vạch chân
tánh, chỉ rơ chỗ cao siêu nhiệm mầu của
Đạo Phật
2/- Thời thứ hai: Đức Phật nói Kinh A Hàm, thời
kỳ này dài 12 năm đầu để dạy về
tự tu, tự độ cho ḿnh.
3/- Thời thứ ba: Đức Phật dạy Kinh Phương
Đẳng, thời này dài 8 năm kế, nói đă tự
độ rồi, c̣n phải độ tha, tức là
độ cho người, tŕnh độ các đệ
tử cao hơn một bậc.
4/- Thời thứ tư: Đức Phật nói Kinh Bát Nhă, thời này
kéo dài 17 năm, tới thời này, tŕnh độ dạy
giáo thuyết cao hơn nữa, tiến tới giáo
thuyết chân không, vũ trụ, thật tướng, vô
tướng của các pháp.
5/- Thời thứ năm: Đức Phật nói Kinh Pháp Hoa, Niết
Bàn, thời này dài 8 năm, khi này các đệ tử
Phật đă thuần thục, có thể gánh vác việc
đạo, nên Ngài giảng việc thị hiện v́
bản nguyện “Khai thị chúng sinh nhập tri kiến
Phật”. Ngài thụ kư cho 1250 đệ tử sẽ thành
Phật tùy căn cơ mỗi người mà thọ kư mau
hay lâu, và việc thuyết pháp độ sinh của
Đức Phật đă đầy đủ viên măn.
Hành Đạo hàng ngày:
Chương tŕnh mỗi ngày của đức
Phật thật khít khao không có kẽ hở. Từ 5
giờ sáng ra khỏi pḥng thất, làm vệ sinh tắm
rửa, xong quán sát xem có ai (kể cả các đệ
tử ở khắp các nơi) cần độ trong nhân
gian th́ Ngài dùng thần thông đến liền. Nếu không
có, Ngài đi kinh hành, rồi ngồi quán sát nhân gian. Tới
9 giờ sáng thuyết pháp cho chúng Tăng, từ 10 hoặc
11 giờ đi khất thực, đi thụ trai nếu có
người thỉnh. Sau khi thọ trai
về, Ngài nằm nghiêng bên phải định thần
một lúc. Tới 1 giờ chiều, Ngài
nhập Đại Bi Định quán sát thế gian.
Từ 2 hoặc 3 giờ chiều thuyết pháp cho thiện
nam tín nữ, Ngài dùng Phật nhăn để nh́n vào tâm tính
mỗi người mà tùy căn cơ hóa độ. Từ
7 giờ tối
giải thích thắc mắc, cho đệ tử
đề tài thiền. Tới 9 giờ tối, Ngài ngồi
quán sát thế gian, có khi đi kinh hành xong ngồi nhập
Đại Định. Từ 11 giờ đêm đến 4
giờ sáng, Ngài nhập Đại Định, hoặc
rải tâm Từ khắp chúng sinh. Nhiều đêm các vị
Trời từ các tầng Trời thường hay
đến chiêm bái và học giáo lư của đức
Phật. Tất cả các buổi tham bái ấy đều
xảy ra vào từ qúa nửa đêm đến khoảng bốn
giờ sáng. Như có lần Vua Trời Đạo Lợi,
cũng gọi là Đế Thiên Thích, mà người
đời gọi là Ngọc Hoàng Thượng Đế
đến tham bái đức Phật trong lúc Ngài đang
nhập Định lửa tam muội trong động
Nhẫn Đà Bà Là khiến cả vùng núi Tỳ Đà
đỏ rực một màu lửa. Như vậy về
đêm Ngài thường nhập Đại Định và
quán sát thế gian, vũ trụ, hoặc tiếp dạy các
vị Trời. Từ 4 giờ sáng Ngài nằm nghiêng bên
phải định thần đến 5 giờ sáng.
Mỗi năm đức Phật đi hành đạo
giáo hóa suốt chín tháng không mưa, c̣n ba tháng mưa, Ngài an cư tại một đạo tràng trong
nước Ấn Độ, gọi là “An cư kiết
hạ”.
Suốt 45 năm, dấu chân đức Phật và các
đệ tử của Ngài khắp xứ Ấn
Độ, ở đâu Ngài và đệ tử cũng được
đón nhận chào mừng, từ hàng vua quan đến dân
giả, từ người già cả đến các trai
trẻ, từ nam tới nữ, từ người giàu
đến kẻ nghèo, đều tắm gội trong ánh
sáng trí tuệ và
gió mát từ bi do Ngài ban rải khắp cùng.
Nơi nào có mặt Ngài và đệ tử Ngài, là nơi
đó tà giáo, ngoại đạo lui xa, tan biến như
bóng tối, sương mai trước ánh mặt trời
hiện.
Đức Phật nhập
Niết Bàn:
1/- Đức Phật tuyên bố nhập
Niết Bàn trước ba tháng:
Việc độ chúng sanh đă viên măn, Ngài chứng tỏ
cho mọi người “Xác thân vô thường”, v́ xác thân do
bốn đại: “đất, nước, gió, lửa”
tạo thành trở về với bốn đại,
cũng như chiếc xe lâu ngày phải
cũ hư. Đó là lư vô thường đương nhiên
phải như thế, cái c̣n lại là giáo lư chân thật,
bất hư mà đức Phật đă giảng dạy
trong suốt 45 năm, đầy đủ cho chúng sinh theo
đó mà học hỏi hành tŕ để đạt
được chân lư là giải thoát khỏi luân hồi sinh
tử.
2/- Đức Phật nói Kinh Di Giáo: Ngài dặn Tôn giả A Nan là Thị giả
của Ngài rằng: “Sau khi Ta Nhập Niết Bàn, hăy tự
thắp đuốc lên mà đi, thắp lên với chính pháp,
đừng thắp lên với giáo pháp nào khác, hăy
nương tựa nơi chính ḿnh, đừng nương
tựa với một pháp nào khác”, Ngài nói tiếp: “Ái ân là vô
thường, nếu có xum hợp, phải có chia lià,
nhất là thân này không phải ta, mạng sống không
tồn tại măi măi được”.
3/- Đức Phật nhập Niết Bàn: Ngài nhập Niết Bàn tại rừng Ta La
nước Câu Thi La giữa hai cây Long Thọ vào nửa
đêm ngày mồng 8 tháng hai âm lịch. Sau đó
được dân chúng Mạt La thành Câu Thi cùng các
đệ tử Phật cúng dàng thân Phật, rồi trà
tỳ (thiêu) và chia Xá Lợi Phật cho 8 (tám) nước
rước về xây tháp
để mọi người chiêm bái, cúng dường.
Kết luận về
đức Phật:
Trải qua đă trên 2500 năm rồi, nhưng
gương sạch của đức Phật vẫn
như mặt trời chiếu sáng cho tới khi đức
Phật Di Lặc ra đời, hiện tại, không có
một ánh sáng nào của một ai trội hơn hay
bằng Ngài được. Đức Phật đă nói ra
giáo lư chân thật, trong sáng, dễ hiểu, thực hành
đạt được kết qủa, và đă có
biết bao nhiêu người đă đạt tới
đích chân lư ấy. Ngài đă sống cuộc đời
gương mẫu, cao cả, không quản ngại gian nan vất vả trên mọi nẻo
đường tại xứ Ấn Độ để
giáo hóa chúng sanh và độ cho được giải thoát
khỏi khổ đau. Ḷng thương của đức
Phật là vô lượng, ân đức
ấy là vô biên. Bởi vậy, để trả ân ấy một phần nào, chúng ta phải
làm ǵ? Chúng ta phải:
1/-
Mọi người nên theo gương sáng
của đức Phật:
Sự hy sinh cao cả, từ bi rộng lớn, trí
tuệ sáng suốt của đức Phật không những
là gương sáng cho Phật tử, mà c̣n cho tất cả
mọi người dù không phải là Phật tử.
Nếu quan niệm đức Phật là một siêu nhân, th́
Ngài là một siêu nhân cao hơn tất cả các siêu nhân
của nhân loại., cho nên Ngài phải được
mọi người kính nể, tôn sùng và chiêm ngưỡng.
2/- Tín đồ nên nhớ những lời di
chúc:
Chúng ta là Phật tử, ai cũng
biết các lời dạy của đức Phật là qúy
báu, nhưng nếu chúng ta không học hỏi và thực hành
th́ cũng vô ích. Ngài dặn: “Tất cả đều
tan ră, chỉ có chân lư là bất di bất dịch, là qúy. Hăy
tinh tấn lên để giải thoát”
Toàn Không