Nhẫn nhục
Toàn Không
Nhẫn nhục là ǵ?
Nhẫn là nhịn chịu, nhục là
tổn thương sỉ nhục. Nhẫn nhục là
chịu nhịn những điều sỉ nhục xấu
hổ, nhục nhă, chịu đựng tổn thương
trước những cảnh, sự việc không vừa
ḷng, nghịch ư, trái tai gai mắt. Nhẫn nhục là nhận chịu những
điều người khác làm cho ḿnh khổ năo, trong tâm
ḿnh không những không tức giận mà c̣n không nghĩ
tưởng tới việc sẽ trả thù.
Tại sao cần phải
nhẫn nhục?
Nhiều
người v́ được nuông chiều được
nể nên tưởng ḿnh là hay là nhất, càng ngày càng
tỏ ra “khinh người”, rồi đâm ra nói năng hành
động qúa trớn. Có kẻ v́ si mê có tính “cả vú
lấp miệng em” át giọng người khác, cho
người khác là ngu là dốt không
bằng ḿnh. Lại có người ngu si
điên đảo cho rằng “ta đây là nhất” không ai
bằng ḿnh nên lấn lướt, hống hách. Tất
cả những người như thế đều là
người ngu si, dù người đó
được ăn học có bằng cấp này nọ (thực
ra, những người có học ít khi có những hành
động lỗ măng) đều là người vô minh vô
học thức cả. Bởi vậy khi bị những người
ấy sỉ nhục, mắng nhiếc, đánh đập
tàn nhẫn, chúng ta nên coi việc đối xử như
thế là do không hiểu sự thật, cần phải kiên
nhẫn giải thích sự việc
Nhưng có người v́ không dằn được
cơn tức giận mà sinh ra đỏ mặt tía tai, quát tháo ầm ĩ, đá bàn quăng ghế,
buông ra những lời cộc cằn chửi rủa
tục tằn, hành hạ đánh đập người
một cách tàn nhẫn. Có kẻ nổi cơn thịnh nộ
đâm, chém, bắn người khác gây ra án
mạng mà phải ân hận suốt đời. Lại có
những việc rất nhỏ nhặt trong gia đ́nh hay
ngoài xă hội chỉ v́ một câu nói không đáng kể hay
một cử chỉ nhỏ nhặt, mà người không
kiên nhẫn đă gây ra biết bao buồn phiền đau
khổ cho người và cho ḿnh. Ở đây có thể nói
người không kiên nhẫn đối với các việc
nhỏ nhặt là người độc, v́ nhân một
việc bé xé ra to, nên là người tạo ác.
Nhẫn nhục được gắn liền
với chữ “b́nh tĩnh, kiên nhẫn”, những
người nóng nảy hay mất b́nh tĩnh, mất kiên
nhẫn, không tự chủ được những
nghịch cảnh khó khăn nan giải, nên nói năng hành
động vội vàng nông nổi thiếu suy nghĩ. Trong
gia đ́nh mà mọi người đều không kiên
nhẫn sẽ đưa đến mất hạnh phúc và
dễ tan vỡ, đối với xă hội
mọi người đều không kiên nhẫn sẽ
đưa tới xáo trộn và không vững bền.
Người học đạo cũng
vậy, khi gặp nghịch cảnh không nhẫn nhục
sẽ làm cho tâm luôn luôn giao động, có khi c̣n bị
đọa v́ không nhẫn nhục mà làm các việc ác.
Do đó tại sao chúng ta phải học và thực
hành nhẫn nhục là vậy.
Có bao nhiêu loại nhẫn
nhục? Có ba loại:
1/- Thân nhẫn:
Là sự chịu đựng của thân
trước các nghịch cảnh không vừa ư, như nóng
lạnh, bệnh tật, đói khát, chỗ ở nơi
nằm không được tiện nghi, hoặc bị hành
hạ đánh đập thân thể. Trước
những nghịch cảnh như thế người
nhẫn nhục không hé răng mở miệng phàn nàn hay
chống cự đánh trả, mà chỉ b́nh tĩnh
giải thích sự việc và chịu đựng.
2/- Khẩu nhẫn:
Là sự im lặng của miệng trước các
nghịch cảnh không vừa ư, như có người
chửi mắng, nói lời vu oan, đâm thọc, không nói có
có nói không, nói thêm bớt, nói bóng nói gió v.v… Trước
những lời nghịch tai như thế, người
nhẫn nhục chỉ nói lời giải thích chân thật
ôn ḥa, nếu không được nghe th́ giữ yên lặng,
chứ không nổi giận dùng những lời tương
tự, lời ác mà đối chọi lại, hoặc gây
thành chuyện lớn, sinh sự đánh lộn, giết
chóc v.v...
3/- Ư nhẫn:
Là sự nhẫn nhục của tâm, trong
ḷng người nhẫn nhục trước nghịch
cảnh của thân không có ư nghĩ than trời trách
đất về sự nóng lạnh bệnh tật, không
than thân trách phận về sự thiếu thốn.
Người nhẫn nhục trước cảnh bị
hành hạ xác thân hay bị vu oán giá họa nhục mạ
đủ điều, cũng đều nhẫn cả,
chỉ có giải thích một cách chân thật, mà không hề
có ư nghĩ tức giận, trong ḷng không nổi lên oán
hận căm hờn sẽ trả thù sau này v.v…
Trong ba loại nhẫn nhục, ư
nhẫn là quan trọng nhất, v́ có khi thân chịu
đựng được những bất nghi, đau
đớn, nhưng miệng c̣n th́ thầm lẩm bẩm
ca cẩm nguyền rủa. Có khi miệng không nói
năng chi cả, nhưng vẫn tức giận trong ḷng rằng ”ngày nay ta không thể ăn
tươi nuốt sống ngươi th́ ngày sau ta sẽ
trả thù này”. Bên trong ư thức không nhẫn
nhục được th́ thế nào cũng có ngày sự
giận dữ thù hằn sẽ hiện ra không ở hành
động th́ cũng ở trong lời nói.
Khi ḷng tức giận hận thù
được lắng xuống trước mọi
nghịch cảnh, th́ sự nhẫn nhục mới
thật sự là kiên cố rộng lớn (Ba La Mật).
Nhẫn nhục như thế
nào?
Có hai thứ nhẫn nhục:
1- Nhẫn nhục chấp tướng:
Là nhẫn nhục v́ danh lợi, v́ có người khen,
v́ sợ uy quyền, v́ chưa đúng lúc chưa có
đủ đều kiện trả thù, v́ coi rẻ khinh
bỉ đối thủ v.v…Đó là nhẫn nhục
chấp tướng, chưa phải là nhẫn nhục
thực sự, v́ c̣n do dục vọng tham, sân, si, mạn
thúc đẩy chi phối.
2- Nhẫn nhục vô tướng:
Là khi nhẫn nhục không chấp vào
tướng như nêu ở trên. Người nhẫn
nhục luôn luôn tự hỏi: “Ta có làm điều ǵ sai quấy
không? Nếu có th́ ta bị sỉ nhục là
phải, ta không nên tức giận mà phải cám ơn.
Nếu ta không làm điều ǵ sai quấy, th́
sau này sẽ được chứng minh, v́ vàng bao giờ
cũng là vàng, không thể vàng mà là đồng
được, hoặc ta không làm điều ǵ quấy th́
những sự sỉ nhục ấy chẳng dính liú ǵ
tới ta nên ta không cần khổ tâm suy nghĩ đến”.
Nhẫn nhục c̣n là không muốn hơn thua, được mất, vinh nhục, khen
chê, đây là tám thứ gió băo quật ngă mọi người
khó mà có thể không tranh đua chèn ép người khác
để đạt mục đích; không muốn phải trái, đúng sai, hay dở, tốt xấu, tranh chấp này nọ; không
muốn đời là băi chiến trường thù hận, thế
giới là một ḷ lửa ngụt cháy. Người
nhẫn nhục c̣n tiến tới có ḷng từ bi hỉ
xả một cách rốt ráo.
Người tu hành muốn hành hạnh
nhẫn nhục kiên cố rộng lớn (Ba La Mật),
phải quán chúng sinh và ḿnh cùng đồng một bản
thể mới không thấy ta bị nhục và người
làm nhục ḿnh. Thí dụ như tay phải làm việc
cầm con dao hay cái búa, cắt đồ vật hay đóng
đinh, rủi cắt hay đập phải ngón của bàn
tay trái làm chảy máu hay sưng vù lên đau đớn,
bị thương tổn như thế, nhưng tay trái
tự nhận tay phải cùng với ḿnh (tay trái) đồng
một thân thể, nên tay trái không thấy tay phải làm
nhục ḿnh làm hại ḿnh. Nhẫn nhục
như thế mới là nhẫn nhục rốt ráo Ba La
Mật.
Một câu chuyện liên quan tới nhẫn nhục
của chính đức Phật mà Kinh sách ghi đă xẩy ra
trong mùa an cư thứ chín của đức Phật. Khi ấy
đức Phật mới 44 tuổi, trung niên, cường
tráng, với 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp,
lại càng thêm hấp dẫn. Đức Phật an cư ba tháng tại Kosambi, Ngài quán sát
thế gian biết được một người Bà La
Môn đă đủ cơ duyên nên Ngài đến nơi ông ta
đang tế thần Lửa. Vị Bà La Môn thấy dung
mạo tuyệt vời của đức Phật, ông
nghĩ ngay đến người con gái diệu của ông,
v́ mấy năm liên
tiếp ông có ư t́m kiếm một chàng rể
xứng đáng nhưng chưa có người nào vừa ư
cả. Bởi vậy sau khi thăm hỏi
chuyện tṛ tâm đầu ư hợp, ông yêu cầu
đức Phật ở lại chờ không lâu ông trở
về nhà lấy tặng một món qùa đặc biệt.
Đức Phật biết ư ông, nên đi
đến một chỗ gần đấy nhưng cố
ư để lại dấu vết chân. Ông Bà La Môn trở
lại không thấy đức Phật, nhưng nhận ra
vết dấu chân trên đất nên dẫn vợ, con gái
trẻ đẹp với quần áo lộng lẫy, trang
điểm mỹ lệ; khi gặp mặt, ông giới
thiệu vợ con, và tỏ ư muốn gả con gái cho
đức Phật, đức Phật vừa từ
chối vừa muốn độ cho Bà La Môn nên nói:
“Tôi đă thấy ái dục, bất măn, tham
vọng là con của Ma Vương,
Tôi không ham muốn thích thú trong nhục dục
của ái t́nh trần tục,
Thể xác đầy dục lạc là ǵ? Nó là khổ, là sinh tử luân hồi,
Tôi không bao giờ muốn rờ đến
nó, dù chỉ sờ bằng chân”
Nghe những lời ấy, cả hai ông
bà Bà La Môn đều chứng ngộ A Na Hàm là bậc
chứng thứ ba trong Tứ Thiền, nhưng cô con gái Magandhiya
th́ trái lại, cô tức giận trong ḷng. Cô cho rằng “Như thế là nhục mạ cô,
chửi mắng cô”. Ḷng tự ái của người
con gái trong một gia đ́nh giàu có quyền thế
địa vị, trẻ đẹp. Chỉ mấy năm
sau, cô trở thành thứ hậu của vua Udena, dựa trên
thế lực đă có, cô sai thuộc cấp mua chuộc,
sai bảo người chửi mắng, nhục ma
đủ điều, xua đuổi đức Phật ra
khỏi thành ấy. Mỗi ngày đi khất thực
đều bị hết toán người này đến toán
người khác rỉa rói chửi rủa, họ nói: “Ông là
tên ăn trộm, Ông là tên khờ dại, Ông là người
ngu si, Ông là tên điên cuồng, Ông là con ḅ, là con lừa, là
con lạc đà, Ông là con thú vật khờ dại v.v… Khi
chết ông sẽ đọa Địa ngục, khi
chết ông sẽ đọa chỗ nghèo khổ v.v…Ông hăy
cút đi khỏi nơi đây, ở đây mọi
người không muốn nh́n mặt ông ,
mọi người đều ghét ông không ưa ông v.v….”
Các Tỳ Kheo (Tăng) đệ tử của
đức Phật thấy nhiều người dữ
dằn dùng lời thô tục chửi rủa Ngài như
vậy chịu đựng không nổi nên thưa:
- Người
ta chửi rủa và nhục mạ chúng ta qúa thậm tệ,
xin Thế Tôn dời đi nơi khác”.
Đức Phật nói:
- Bây giờ chúng ta đi
đâu?
- Thưa Thế Tôn, nên
đi đến thành khác.
- Nếu ở thành đó
người ta cũng chửi mắng và nhục mạ th́
ta đi đâu?
- Thưa Thế Tôn,
lại đi đến thành khác.
- Các Thầy
không nên nói vậy, nơi nào gặp chuyện khó khăn chính
nơi ấy ta phải giải quyết cho ổn thỏa. Chỉ khi nào giàn xếp xong
xuôi ta mới có quyền đi nơi khác, nhưng ai
chửi rủa nhục mạ ta?
- Thưa Thế Tôn,
hầu như mọi người đều chửi
mắng nhục mạ cả.
Đức Phật giảng giải: “Như voi ra
trận phải bị làn tên từ bốn phiá bắn
tới, cũng như thế, ta phải chịu
đựng những lời nguyền rủa chửi
mắng từ mọi phiá, v́ phần đông sống không có
đạo đức, sống không giới đức.
Nhiều voi ngựa được dẫn tới chỗ
vua để lựa con thuần thục tốt nhất
để cưỡi, giữa đám đông đảo
người tụ hội, người xứng đáng
nhất là người chịu đựng được
những lời chửi mắng nguyền rủa. Dù
những con ngựa con voi trang trọng qúy báu, nhưng
người thuần thục giới đức trang nghiêm
là hơn hết tất cả”.
Và đức Phật bảo:
- Các Thầy
không nên lo ngại, v́ họ chỉ chửi mắng trong
bảy ngày, ngày thứ tám họ sẽ ngừng, v́ mọi
chuyện khó khăn đến với Như lai không bao
giờ qúa bảy ngày.
Đúng như lời đức Phật
đă nói, đến ngày thứ tám, khi đức Phật
đi khất thực, không c̣n thấy một người
nào có hành động lỗ măng với Ngài nữa.
Chúng ta thấy sự nhẫn nhục
chịu đựng của đức Phật thật là có
một không hai, đây mới thật là nhẫn nhục
kiên cố. Bảy ngày vào thành khất
thực, bảy ngày đều bị hết toán
người này đến toán người khác chửi
bới nhục mạ xua đuổi thậm tệ
suốt từ lúc bắt đầu vào thành cho đến
lúc khất thực xong trở về nơi ngự. Nếu như chúng ta gặp trường hợp
như vậy sẽ xử trí ra sao?
Một câu chuyện nhẫn nhục khác của
một đệ tử Phật mà Kinh sách đă ghi lại
như sau:
“Thời ấy, một hôm Tôn
giả Purna đến đảnh lễ rồi xin
Phật cho phép Tôn giả được đi đến
xứ Chronapraranta để giáo hóa, dân vùng này có tính hung
dữ và tạo nhiều tội ác, đức Phật
thấy thế nên hỏi Tôn giả:
- Thầy nguyện đem
giáo pháp của Ta đến xứ ấy, nhưng nếu
họ không nghe mà c̣n dùng lời hung ác nhục mạ th́
thầy nghĩ sao?
- Thưa Thế Tôn, con cho họ
là người tốt, v́ họ chỉ sỉ nhục mà
không đánh đập con.
- Nếu họ hành hạ
đánh đập thầy th́ sao?
- Thưa, con
nghĩ là họ c̣n có ḷng tốt, v́ họ đă không
giết con.
- Nếu họ dùng dao
giết hoặc đánh thầy cho tới khi chết
mới thôi th́ thầy nghĩ sao?
- Thưa đức Thế
Tôn, con nghĩ họ là ân nhân của con, v́ họ
đă giúp con bỏ được thân thối tha đau
khổ này.
Đến đây, Tôn giả Purna được
Phật khen và chấp thuận:
- Thầy nhẫn nhục
như vậy mới có thể qua được xứ
ấy.
Tôn giả Purna qua xứ Chronaprananta giáo hóa một
thời gian th́ hầu hết dân xứ ấy đều
quy y Phật Pháp Tỳ Kheo (Tăng), v́ Ngài đă hành
nhẫn nhục từ bi hỉ xả từ trong
đến ngoài của ư khẩu thân”.
Lợi ích của nhẫn
nhục:
Đối với cá nhân, người nhẫn nhục
tâm được an ổn, sự
nghiệp bền vững, mọi người gần
gũi, đối với gia đ́nh được xum họp,
bạn bè gắn bó, xă hội yên ổn thanh b́nh. V́ nhận
thấy sự lợi ích của nhẫn nhục nên
người xưa đă nói:
Nhẫn, nhẫn, nhẫn, những
điều oan trái từ đây dứt hết,
Nhịn, nhịn, nhịn, ngh́n tai
muôn họa từ nay tiêu tan,
Nín, nín, nín, cảnh vui vầy do đây mà có
được,
Thôi, thôi, thôi, bả lợi danh không c̣n hoành
hành nữa.
Sự quyết tâm thực hành nhẫn nhục
nhất là những người đă từng bị
lửa hận làm cho tan nát cơi ḷng th́ lại càng nên thực
hành nhẫn nhục. Người có tu hành phải
để ư từng tí từng li về hạnh nhẫn
nhục từ thân đến khẩu và nhất là ư, không
buông lung mặc cho ư muốn phát lúc nào th́ khởi lúc ấy,
không để cho tham sân si điều khiển th́ sẽ có
được tâm an b́nh. Được
tâm an b́nh rồi th́ việc tu hành mới
có thể tinh tấn, khi đă tinh tấn tới mức
rồi th́ lo ǵ không đạt đạo. Nếu
mọi người đều hành hạnh nhẫn nhục
th́ thế giới này sẽ là thế giới thái b́nh an
lạc vậy.
Toàn Không