Phật Giáo,
Khoa học và Giác Ngộ
Sự
khác biệt giữa tin, hiểu và thực hành
Thái Minh Trung, M.D.
18 tháng 09 năm 2006
Xuất xứ: www.khoahoc.net
Đa số
người đợi đến tuổi trung niên khi
cuộc sống ḿnh có nhiều mất mát mới bắt
đầu t́m hiểu tôn giáo.
Một số lớn t́m hiểu tôn giáo để có một
niềm an ủi cho những cái mất
mát của ḿnh. Họ hy vọng
được sự cứu rỗi khi có niềm tin vào tôn
giáo và nhóm hợp với những người cùng niềm
tin với ḿnh để củng cố ḷng tin. Số ít hơn t́m hiểu tôn giáo như một môn
học về tâm linh và họ học và so sánh lư thuyết
tôn giáo. Những hiểu biết đó
chỉ thuần về lư trí và lư thuyết. Những
người này trở thành những diễn giả ăn nói trôi chảy diễn đạt và
giải thích được tôn giáo như một môn
học.
Tuy niềm tin và sự học hỏi về tôn giáo rất
tốt, đó chỉ là những bước đầu
để ta có thể đi sâu hơn và tự khám phá
đời sống tâm linh. Khi ta giậm chân tại chỗ
ở niềm tin quá độ hay dừng trên lư thuyết
để diễn bài tôn giáo th́ một ngày nào đó ta
sẽ bị thất vọng v́ hai cái cực đoan trên
không giúp ích ǵ cho ta mà trái lại c̣n gây nhiều phiền
phức nửa. Thí dụ khi tin ta phải
“trả nghiệp” th́ ḷng tin mù quáng đó khiến cho ta
thụ động không thay đổi cuộc sống ta,
khi bị bịnh không đi trị bịnh, phải
chịu bịnh như vậy để “mau hết
nghiệp xấu”. Khi ta học thuyết luân hồi,
ta quả quyết đó là chân lư và dùng hiểu biết ta
đi tranh luận hơn thua với các nhóm tôn giáo khác không
tin vào luân hồi. Điều này có thể gây ra
sự thù hằn giữa các tôn giáo.
V́ thế muốn thực hành đạo một cách đúng
đắn, ḷng tin và sự hiểu biết về đạo
phải đi đôi với nhau. Ḷng tin là cái năng lực
thúc đẩy ta hành động. Nhưng nếu hành
động đó không được soi sáng bởi sự
hiểu biết th́ hành động đó sẽ dễ
dẫn đến địa ngục của sự
cuồng tín thay ǵ đưa đến sự giải thoát.
Sự hiểu biết tạo cho ta một
hướng đi. Muốn hiểu biết một
cách chín chắn th́ ta phải có sự thăng bằng
giữa ḷng tin và sự nghi ngờ. Khi học
đạo ta luôn phải đặt câu hỏi là lư
thuyết này có thể áp dụng được trong
đời sống hàng ngày của ta không? Đạo Phật cho phép ta nghi ngờ và đặt
câu hỏi. Chỉ khi đặt câu
hỏi ta mới có thể khám phá ra sự thật trong chính
ta.
Tu phải đi đôi với hành
Tu là tu sửa. Ta không thể nào làm một cuộc cách
mạng khi không có hành động. V́ thế tu phải
đi đôi với hành. Ở xă hội ta phải chịu
cực đi làm mới có tiền nuôi thân và giúp gia đ́nh.
Thế giới tâm linh cũng không có khác ǵ. Ta phải
chịu cực thực hiện những điều ta
học hỏi được th́ ta mới có nghị
lực giúp ta thay đổi chính ḿnh và sau đó giúp xă
hội thay đổi. Cũng như khi ta làm quan lớn mà
tham nhũng th́ không thể nào dạy dân có cuộc sống
tinh khiết được. V́ thế tu sửa là
điều rất quan trọng trong quá tŕnh tiến hóa tâm
linh và sau đó ta làm gương giúp kẻ chung quanh ta
tiến hóa theo ta. Khác với Ki Tô Giáo, Phật Giáo chủ
trương ta phải tu tâm trước rồi mới giúp
đời sau. Có lẻ v́ thế mà lịch sử cho ta
thấy rằng chưa hề có chiến tranh Phật giáo.
Hiểu
mà không hành dễ tạo cho ta cái cảm giác ngạo mạn
hơn thua. Người học mà không hành sẽ có cái nh́n
phiến diện v́ họ có khuynh hướng tô
điểm cho những ǵ họ học hỏi
được là trên nhứt, là đúng nhứt.
Người đời gọi là méo mó nghề nghiệp.
Ông bác sĩ cho ḿnh giỏi hơn ông kỹ sư v́ ḿnh
trị được bịnh cho ông kỹ sư.
Ngược lại, ông kỹ sư cho ḿnh giỏi hơn
ông bác sĩ v́ không có ḿnh làm ra những dụng cụ y khoa
th́ ông bác sĩ sẽ không hành nghề được. Trên
thực tế con người cần nương nhau mà
tồn tại. Không ai hơn ai, không có tôn giáo nào hay hơn
tôn giáo kia. Tôn giáo được đặc ra để
đáp ứng nhu cầu tâm linh của con người. Có
người thích hợp tôn giáo này, người thích hợp
tôn giáo kia. Ta không nên áp đặt tôn giáo ḿnh lên kẻ khác.
Hành
đạo, thực hiện đạo trong đời
sống hàng ngày giúp ta hiểu rơ được con
người thật của ta. Khi ta học và hiểu
được phải dẹp bỏ tham, sân, si th́ ta
tưởng như khi ta hiểu được
điều này, tham, sân, si tự nó được dẹp.
Sự thật không phải như vậy. Chỉ khi ta
thực hành bố thí mà trong bụng c̣n cảm thấy
hơi tiếc của th́ lúc đó ta mới nhận
thức được ta tuy hiểu mà ta vẫn c̣n ḷng
tham, c̣n lo âu khi rời của cải của ta. Chỉ khi
nghe người khác chê hay nói xấu ḿnh mà ta cảm
thấy có sự buồn phiền nổi lên trong ḷng th́ ta
chợt nhận ra cái sân của ta. Khi nhận ra sân nơi
ta th́ ta không c̣n đổi thừa là người nói xấu
ta thật là vô duyên thất đức. Chỉ có khi
thực hành ta mới nhận rơ tham, sân, si nơi chính ta và
từ đó ta cố gắng tự trị lấy bịnh
của ḿnh mà không c̣n đổi thừa hoàn cảnh bên ngoài
để tự biện hộ cho ta nửa.
Tu hành là trở về sự toàn thể
Sở dĩ ta đau khổ là ta tự ngắt bẻ ḿnh
ra ngàn phần. Phần chính được gọi là ngă và
phần bị mất gọi là ngă sở. Một thí dụ
cho dễ hiểu là t́nh yêu lứa đôi. Khi c̣n nhỏ th́
đứa bé cảm thấy tương đối
đầy đủ, không có cảm giác nhớ nhung và
đau khổ của kẻ thất t́nh. Nhưng khi vào
tuổi dậy th́, khi biết yêu th́ tâm hồn nó bị phân
chia ra và nó cảm thấy không đầy đủ nửa
mà phải t́m người yêu khác phái để lấy
về sự đầy đủ ban đầu. Cái ngă “tôi
yêu” và ngă sở “người tôi yêu” bắt đầu phân
chia rơ rệt. Người thanh niên thiếu nữ cần
đem cái ngả sở -người yêu- về cho ḿnh th́
mới gọi được là hạnh phúc, có nghĩa là
trở về sự toàn vẹn ban đầu. Khi không
được t́nh yêu th́ tâm hồn người thanh niên,
thiếu nữ cảm thấy như bị cắt xén,
thiếu hụt, và cô đơn. V́ thế thất t́nh có
thể dẫn đến sự tuyệt vọng và tự
tử.
Sân là phản ứng ta có khi ta bị từ
chối. Bị từ chối làm ta cảm thấy mất
sự đầy đủ trong tâm hồn. Ta sân khi món
đồ ta thích hay người ta yêu bị lấy
mất. Sự mất mát hay t́nh yêu bị từ chối
hoặc cướp mất làm ta cảm thấy ta không toàn
vẹn nửa. Tột điểm của sân là diệt
bỏ người đe dọa sự toàn vẹn của
ta để ta có thể trở về sự đầy
đủ ban đầu. Buồn hay mặc cảm tự
ti là mặt trái của sân khi đối tượng ta có
nhiều quyền uy hơn ta, v́ lư do nào đó ta không
diệt trừ người đó được (thí dụ
như ta đang cần người đó). Ta phải
miễn cưỡng trở thành kẻ yếu để
xin vào ṿng chấp nhận và được bảo vệ,
để ta có thể trở lại sự đầy
đủ.
Nguồn
gốc của vô minh do con người từ vô thủy
đă tự đánh mất ḿnh trong cơi vật chất vô
thường. Con người dùng xác thịt làm
phượng tiện sanh ra xác thịt, họ đi lạc
vào vô số xác thân và muốn chiếm giữ những xác
thân để mong t́m lại những phần bị đánh
mất của chính ḿnh. Càng qua nhiều chu kỳ sanh tử
th́ sự mờ tối trong tâm càng nhiều hơn
để dần dần họ quên hẳn con đường
trở về sự đầy đủ ban đầu.
Một trong những lối trở về là t́nh yêu nói chung.
Khi cha mẹ thương yêu con cái th́ tạo cho con cái ḿnh
cảm giác đầy đủ trong tâm hồn. Nhưng
rồi nếu ta bám vào xác thân cha mẹ th́ khi cha mẹ
chết ta sẽ bị cắt xén cô đơn khôn tả.
Chính v́ thế những tôn giáo cứu rỗi ra đời
(Thiên Chúa Giáo, Hồi Giáo hay phái Tịnh Độ của
Phật Giáo) đem đến cái hy vọng trở về
sự đấy đủ của tâm hồn khi tín
đồ được chấp nhận vào thiên đàng
hay cơi tịnh độ.
Con đường trở về trong hiên tại: giác
ngộ
Bát nhă là con đường tắt trở về sự
đầy đủ của Chân tánh trong đời
sống hiện tại. Không phải ai cũng đi
được con đường này. Qua kinh Bát Nhă,
Phật dạy ta không nên nương tựa trên vật
chất mà cũng không nên nương tựa trên kiến
thức để nh́n ra sự đầy đủ nơi
ta (chân tánh). Người thế gian thường dựa
trên nguyên tắc nhị nguyên để vào đạo.
Bỏ cơi giới sắc về cơi giới tâm th́ dễ
hiểu, bỏ kiến thức bon chen của đời
để học kiến thức xuất thế gian
của đạo là điều dễ hiểu. Nhưng
nếu Phật dạy không nên nương tựa lên
đời lẩn đạo để vào Chân tánh th́
thật khó hiểu. Rồi Phật lại nói sắc
tức là không, không tức là sắc, là một điều
ta dùng lư trí gượng ép mà giải thích chớ không
thể nào hiểu được cái tận cùng rốt ráo
của lời Phật dạy.
Khi
Phật sắp nhập Niết bàn, Phật dơ cành hoa sen
lên mà không nói một lời, đại chúng ngớ ngẩn
nh́n nhau thắc mắc, chỉ có ngài Ca Diếp chúm chím
cười. Phật chọn Ngài làm người thừa
kế. Khi đọc lịch sử thiền tông, ta
thấy có nhiều điều kỳ quái như khi có
học tṛ hỏi về đại ư Phật pháp th́ sư
tổ hét lên mà không trả lời hay dựng cây phất
tử (chổi) lên trong im lặng, vậy mà có người
lại ngộ đạo và liền đó quỳ lại
cám ơn sư tổ. Người đệ tử này
đă giác ngộ. Giác ngộ là sự liên ứng với
chân tánh không qua suy nghĩ lư luận. Nhiều học
giả không thích lư Bát Nhă hay thiền tông v́ cách truyền
dạy này không có phương pháp và không ai giải thích
được một cách tường tận.
Con
đường tức thời vào Chân tánh rất trơn
trợt. Vừa khởi một ư nghĩ để hiểu
là ta bị té rồi. Ta không thể dùng lư trí để lư
giải được đạo (con đường) Bát
Nhă. Muốn đi trên con đường này, hành giả
phải tự cởi trói những ǵ đă học hỏi được.
Đây là con đường giải thoát tâm linh chớ không
phải hiểu biết lư giải danh từ giải thoát.
Khi dừng mọi tư tưởng, tâm hành giả biến
thành bầu trời trong suốt và hành giả là sự liên
ứng của Chân tánh. Sự ứng hiện từ không mà
có và chính cái hiện tượng ứng hiện tức
thời đó chưa từng rời cái tịch lặng
sáng suốt. Bây giờ hành giả mới nhận ra
rằng sự đầy đủ thật sự không
phải do tích chứa mà có. Thưỏ xưa Ngài Ca
Diếp mỉm cười vẫn c̣n là hiện tại.
Nụ cười thật đẹp đó ngay nơi
đóa hoa Đức Phật đưa lên và nụ cười
chính là đóa hoa sen. Phật, hoa sen và Ca Diếp đồng
thời hiện ra và phản chiếu trong nhau. Ca Diếp
vừa không phải là Phật mà vừa là Phật chính
nơi lúc đó. Cái thực trạng tức thời đó
thật khó diễn bày qua chữ nghĩa.
Phân tâm học và Bát Nhă
Theo phân tâm học, ta đau khổ do ta phân liệt (split)
tâm ta một cách tự động mà ta không ư thức
được. Chính sự phân liệt đó duy tŕ ngă và ngă
sở. Sự phân liệt đó xuất hiện ở
nhiều dạng khác nhau. Cái cảm nhận sự thật
liên hệ rất nhiều t́nh trạng phân liệt đó.
Một trong những cách phân liệt là hiện tượng
phóng tâm (projection) mà dân gian gọi là đổ thừa. Ta
đổ thừa người này vô duyên nói những
lời chọc ta giận, ta đổ thừa
người kia dụ dỗ và lường gạt ta. Đó là
sự thật không chối căi mà ta cảm nhận
được. Qua những lần phân tích tâm lư th́ sự
phóng tâm ít dần đi. Khi ta ít giận hơn, ít ham
muốn hơn th́ ta cảm thấy cùng một lời nói
đó mà bây giờ ta có thể bỏ qua được. Ta
có cảm tưởng như lời nói đó không c̣n quan
trọng nửa. Nói theo nhà Phật th́ lúc trước ta c̣n
vô minh (không hiểu rơ chính ḿnh) cái ngă ta c̣n lớn nên bị
cái thế giới ngă sở làm ta điên đảo. Khi ta
hiểu biết ta hơn th́ chấp ngă mỏng dần và ta
bớt lệ thuộc vào cái ngă sở. Nói một cách khác,
cái thế giới quan thay đổi theo sự nhận
thức của ta.
Cái
tột đỉnh của sự tu hành diệt khổ là ta
tập nhận thức sự phân liệt của tâm ta
(vọng tưởng) và dần dần trở về cái tâm
nhận thức không suy nghĩ của ta (chân tâm). Phân tâm
học cho ta biết rằng khi ta càng suy nghĩ nhiều
th́ ta càng đi lạc vào những cảnh giới của
phân liệt. Thí dụ như ta theo những tư tưởng
trả thù ghét bỏ người nói xấu ta. Ta dùng
những suy nghĩ lư luận biện hộ phần
đúng về ta. Càng suy nghĩ nhiều, cái cảm
tưởng người đó xấu càng in sâu đậm
vào tâm thức ta. Diều đó khiến cho ta thật khó mà
nhận ra chính ḷng bực tức của ta vẻ ra cái
cảnh đó. Khi ta thấy người đó hoàn toàn
xấu rồi th́ dù ta có học đạo cách mấy
cũng vẫn không thể tha thứ người đó
được.
Khi ta
dẹp bỏ được tất cả những
thế giới ngoại cảnh do tâm phân liệt của ta
vẽ ra th́ ta trở về với con người nhận
thức đầy đủ của ta. Tu hành rất
đơn giản nếu ta chịu khó nh́n chính ḿnh và
rất phức tạp nếu ta không chịu thay
đổi ḿnh mà cứ muốn thay đổi người
khác. “Cây muốn lặng mà gió chẳng dừng”: khi hành
đạo ta biết không làm gió dừng được
nhưng có thể làm tâm ta dừng được. Khi tâm ta
dừng rồi th́ gió bên ngoài sẽ dừng theo. Điều này
ta chỉ có thể thể nghiệm chớ không lư luận
ra được. Có lẻ Phật muốn cho ta nhận ra
điều này nên vào phút cuối cuộc đời,
Phật dạy: Trong 49 năm thuyết pháp, Như Lai
chưa từng nói một lời. Khi tâm ta bám vào cái đúng
của pháp Phật, sớm muộn ǵ nếu không tạo
băo táp th́ ta cũng tạo gió tranh chấp.
Thần kinh học và Bát Nhă
Những nghiêng cứu gần đây cho ta biết năo bộ
của ta phản ứng với hoàn cảnh bên ngoài qua 3
hệ thống thần kinh (neural systems) ảnh
hưởng qua lại với nhau: hệ thống thần
kinh limbic, hệ thống prefrontal cortex, và hệ thống
paralimbic. Hệ thống limbic là phần năo bộ cũ
kỹ nhứt liên hệ đến bản năng và t́nh
cảm ban sơ (sợ, ham muốn, giận dữ), hệ
thống prefrontal cortex phát triển gần đây hơn trên
quá tŕnh tiến hóa của loài người, liên hệ
đến suy nghĩ, tính toán, và chiến lược.
Ở những người không tu tập, hai hệ
thống này làm việc song song mà không liên lạc với
nhau, sanh ra hiện tượng phân liệt tâm mà phân tâm
học nghiên cứu ở phần trên. Có nghĩa là ta có thể
học hỏi lư luận trôi chảy (hoạt động
của prefrontal cortex) mà không nhận ra những t́nh cảm
tham, sân, si của ta phát ra từ hệ thống limbic.
Ngược lại ta dùng sự hiểu biết của
hệ thống prefrontal để ta phát triển sự sân
hận: dùng trí khôn biện hộ, làm vũ khí độc
hại hay dùng mưu lược chính trị xâm chiếm
nước láng giềng.
Từ
khi hệ thống prefrontal cortex của loài người phát
triển, họ tạo ra sự mất quần b́nh trên
quả địa cầu. Nguyên do của sự phân chia lănh
thổ và xử dùng tài nguyên một cách bất cân xứng
là hâu quả của sự phát triển của hệ
thống này. Chỉ có loài người mới tạo ra
chiến tranh v́ mâu thuẫn với nhau. Hiện nay, họ
giết lẫn nhau v́ tranh giành tài nguyên ít hơn là v́ mâu
thuẫn tư tưởng. Mâu thuẫn không có ở
bản năng. Bản năng tự nó có sẵn sự quân
b́nh trong đó. Thí dụ loài thú chỉ đi săn khi nó
đói và không giết các sinh vật khác nhiều hơn
sự cần thiết của bao tử. Khi thức ăn
hiếm th́ sự sanh sản ít theo, chớ không phải
như loài người sanh sản không nương theo nhu
cầu cung cấp của thiên nhiên.
Hệ
thống paralimbic đóng vai tṛ rất quan trọng trong
sự liên kết hai hệ thống limbic và prefrontal cortex
kể trên, nó nối liền lư trí và t́nh cảm thuộc
về bản năng. Hệ thống này có nền tảng
vật chất, là nhóm tế bào thần kinh nằm phía sau
vùng orbitofrontal cortex và có những đường thần
kinh nối liền với hệ thống limbic. Nhờ
hệ thống này mà ta có được sự nhận
thức toàn diện khi t́nh cảm và hiểu biết
được phối hợp một cách hài ḥa. Cái giây phút
phối hợp đó gọi là giác ngộ nhỏ, so
với giác ngộ toàn diện của Phật. Khi ta không
thiền định hoặc trải qua những khóa phân
tích tâm lư th́ hệ thống này không tích cực hoạt
động. Khi ta khởi động nó th́ ta sẽ có
những giây phút trực hiểu thế giới một cách
toàn diện (integrated and insightful knowledge), c̣n gọi là giác ngộ.
(Quư đọc giả muốn tham khảo thêm về
những hệ thống thần kinh này xin đọc:
Mesulam MM, ed. 2000. Principles of Behavioral and Cognitive Neurology, 2nd ed. NewYork:
Thái Minh Trung, M.D.
Associate Clinical Professor
Department of