SỐNG TRONG AN
LẠC
+++
Mười lăm
bài viết về thực hành Phật Pháp
+++
Minh Tích
(tháng 7, 1999)
(hiệu đính tháng 2, 2003)
***
(sách biếu, không bán)
LỜI MỞ
Trong khóa lễ
nhật tụng của Bắc Tông, thường đọc
bài kệ khai kinh
như sau:
Pháp Phật
cao siêu rất nhiệm mầu
Ngh́n muôn ức
kiếp dễ hay đâu
Con nay nghe thấy
xin vâng giữ
Chân
nghĩa Như Lai nguyện giải sâu.
Tôi được
phước lớn là tuy sống sau Phật hơn hai thiên
niên kỷ, nhưng lại được nghe và tin theo Phật.
Từ khi được tắm gội trong Biển Chân Như,
tôi cảm thấy tâm hồn được thư thái an
ḥa, và dù c̣n rất nhiều dục vọng cấu uế của
một con người tầm thường, tôi cảm thấy
vững tin vào cứu cánh mà Phật Thích Ca đă chỉ dạy
cho chúng sinh qua các kinh điển mà Ngài truyền lại cho
tới ngày nay.
Nhận thấy
cho đến nay, vẫn c̣n thiếu một tài liệu thật
là ngắn gọn tóm tắt cái vi diệu của Phật
Pháp như đă nêu lên trong bài Kệ Khai Kinh nêu trên, tôi không
quản tài hèn sức mọn, gắng viết ra tài liệu
mỏng này hầu giúp cho người chưa quen nhiều với
giáo lư của Phật có dịp t́m hiểu thêm hầu phát
tâm tu học.
Xin kính dâng lên chư Phật chứng minh, và xin hồi hướng
công sức nhỏ mọn đến mọi chúng sinh cho
chóng đạt thành Phật đạo.
Kính
mong quư vị cao minh chỉ giáo thêm để những lần
sau tài liệu càng ngày càng được cải tiến, đáp
ứng tốt hơn nhu cầu t́m hiểu của mọi
người.
Minh Tích
Bài Một
PHẬT GIÁO LÀ
G̀ ?
Phật giáo
không những chỉ là một tôn giáo theo ư nghĩa thông thường,
nghĩa là nơi quy ngưỡng ḷng tin cho con người,
mà c̣n đồng thời là triết học, khoa học, tâm
lư học và đạo đức học nữa. Nói tóm, Phật giáo là một phương
cách sống toàn diện, bao gồm lư thuyết ( lư ), và thực hành ( sự ). Lư sự dung
thông, lời nói đi đôi với việc làm, đó là đặc
điểm của Phật giáo.
Phật Thích
Ca thị hiện trên thế gian này cách đây 2627 năm, là
một hoàng thái tử với đầy đủ giàu sang,
danh vọng và tài năng, nhưng nh́n thấy sự đau
khổ của con người, nên đă
bỏ lại hết đàng sau để đi t́m phương
cách giải thoát cho chúng sinh. Ngài đă chứng quả Bồ
Đề vào năm 35 tuổi, và sau đó đi tuyên giảng
giáo pháp của Ngài trong 45 năm nữa trước khi nhập
diệt vào năm 80 tuổi.
Đạo của
Ngài chỉ dạy cho chúng sinh có thể tóm gọn trong một
câu : Cũng như nước biển chỉ
có một vị là vị mặn, ĐẠO CỦA NGÀI CHỈ
CÓ MỘT VỊ, ĐÓ LÀ VỊ GIẢI THOÁT.
Phật
dạy chúng sinh đều có PHẬT TÍNH, nghĩa là khả
năng thoát khỏi ṿng sinh tử luân hồi để chứng
quả Bồ Đề như Ngài. Tuy nhiên, v́ VÔ MINH che lấp, như
mây mù che lấp mặt trời, ÁI DỤC phát sinh, làm chúng
sinh tạo NGHIỆP, nên phải trôi lăn trong ṿng sinh tử.
Đặc tính của sinh tử là KHỔ, do VÔ MINH (THAM,
SÂN, SI) nên tích tập ngày càng nhiều ( TẬP
). Tuy nhiên, nếu thấu hiểu sự thực này, th́ ta
có thể DIỆT khổ để đến được
bờ an vui. Con đường diệt
khổ là ĐẠO ( Bát Chánh Đạo
). Thực hành Bát Chánh Đạo thật tốt trong nhiều
kiếp th́ cuối cùng sẽ chứng BỒ ĐỀ, nghĩa
là NIẾT BÀN, CHÂN NHƯ, cũng là KHÔNG, không phải hư không
mà là một trạng thái an nhiên tự tại xuất thế
gian. KHỔ, TẬP, DIỆT, ĐẠO là TỨ DIỆU ĐẾ,
nội dung KINH CHUYỂN PHÁP LUÂN, nghĩa là KINH CHUYỂN
BÁNH XE PHÁP, bài kinh đầu tiên Ngài giảng cho năm người
là nhóm Kiều Trần Như.
Bài kinh thứ
hai Ngài giảng dạy là KINH VÔ NGĂ TƯỚNG, nêu lên cái sai
lầm lớn nhất, sâu xa nhất và khó chữa trị
nhất của con người , cho CÁI TA là có thật và là
trung tâm điểm của vũ trụ, trong khi thực ra đó
chỉ là sự giả hợp phù du của năm nhóm tích tập,
đó là SẮC ( thân xác ), THỌ ( cảm giác ), TƯỞNG
( suy nghĩ ) HÀNH ( ước vọng ), và THỨC ( ư thức
). Khi ta c̣n sống th́ năm uẩn này tụ họp với
nhau, nhưng ngay khi chết đi, thân xác tan ră, các uẩn
khác không có chỗ bấu víu nên cũng biến theo, trừ
NGHIỆP LỰC, nghĩa là cái rơi rớt tồn đọng
của ái dục, c̣n gọi là THÂN TRUNG ẤM, tồn tại
dưới dạng những chập sinh lực sát na sinh diệt,
nhưng chập sau tiếp nối và thừa hưởng
kư ức của những chập trước. Cái này cũng
không phải là cái ǵ thường hằng vĩnh cửu, mà
tuân theo LUẬT VÔ THƯỜNG như tất
cả mọi thứ khác trong hiện tượng giới.
Nó mang khát vọng được đầu thai để " ân đền oán trả ", và thọ
hưởng dục lạc phù du.
Một
bài kinh khác cũng vô cùng quan trọng là KINH TRUNG ĐẠO
NHÂN DUYÊN, nêu lên một lư chủ chốt trong hiện tượng
giới là LƯ DUYÊN SINH. Đó là THẬP NHỊ NHÂN DUYÊN.
Các pháp đều do duyên sinh, nghĩa là do sự kết hợp
dẫn dắt của nhiều yếu tố hoặc điều
kiện. Cái này có th́ cái kia có,cái này sinh th́
cái kia sinh. Nhưng mặt khác, cái này diệt th́ cái kia cũng theo đó mà diệt. Đó là lư do
con người có thể diệt khổ để đạt
đến chốn an vui.
Một
định luật cơ bản nữa của hiện tượng
giới là LUẬT NHÂN QUẢ. Luật này áp dụng trong lănh vực
vật lư cũng như trong lănh vực tâm linh. Do đó,
gieo nhân tốt th́ sẽ lănh quả tốt, gieo nhân xấu
th́ phải lănh quả xấu, hoặc ngay trong kiếp này,
hoặc trong một kiếp về sau. Ai làm nấy
chịu, chứ không có chuyện quít làm cam chịu.
Tóm tắt, sau
đây là những ư niệm căn bản trong Phật giáo : KHỔ, KHÔNG, VÔ THƯỜNG, VÔ NGĂ, NGHIỆP,
NHÂN QUẢ, NHÂN DUYÊN, NIẾT BÀN.
***
Bài Hai
PHẬT GIÁO LÀ
G̀ (II)
Trong bài trước,
chúng tôi đă nêu lên những ư niệm căn bản trong Phật
giáo, là KHỔ, KHÔNG, VÔ THƯỜNG, VÔ NGĂ, TỨ DIỆU ĐẾ,
DUYÊN, NGHIỆP, NHÂN QUẢ, BÁT CHÁNH ĐẠO, NIẾT BÀN. Trong bài này, chúng tôi xin tŕnh bày Phật giáo từ một
góc cạnh thực tiễn hơn.
Có một bài kệ
rất thông dụng và nổi tiếng như sau
:
CHÚNG THIỆN
PHỤNG HÀNH
TỰ TỊNH
KỲ Ư
THỊ
Nghĩa là:
CÁC ĐIỀU
ÁC TH̀ KHÔNG LÀM
CÁC ĐIỀU
LÀNH TH̀ TUÂN THEO VÀ THỰC HIỆN
TỰ LÀM CHO Ư
THANH TỊNH
ĐÓ
LÀ LỜI
Đây
không phải là những điều chỉ có riêng trong Phật
giáo, mà trong nhiều tôn giáo khác, cũng như trong đạo
đức học nhân bản, đều có nêu lên những
ư tương tự. Có điều Phật giáo không chỉ khuyên người
ta làm những điều đó, mà c̣n giải thích rơ ràng như
trong khoa học nguyên nhân và hậu quả, thay v́ chỉ đề
cập xuông mà thôi.
Tại sao ta lại
phải làm các điều nêu trên ? Nếu
ta không làm th́ đă có sao ? Chẳng phải
mọi người đều chạy theo danh vọng tiền
tài bất chấp đạo lư đó sao ?
Tội ǵ tôi không lo cho cái thân tôi, cho vợ con tôi
? Áp bức bóc lột, o ép người khác để được
giàu sang phú quư, nhà cao cửa rộng, chẳng phải là điều
khôn ngoan hơn nhiều sao ?
Đối với
những luận cứ như trên, Phật giáo trả lời
như sau :
Trước
hết, cái mà ta cho là hạnh phúc trần gian đó, trong thực
chất lại là KHỔ. Dù trong nhất thời, chúng có vẻ
như là hạnh phúc, nhưng trước hết, chúng không
bền vững, nay c̣n mai mất. Thứ
hai, con người không bao giờ vừa ḷng với cái ḿnh
đang có. Phương ngôn có câu :
" Ḷng tham không đáy ". Có cái này th́ ta lại đ̣i
thêm cái khác, " được voi đ̣i
tiên ", không biết đến đâu là đủ.
Đây là trường
hợp lư tưởng, tốt đẹp nhất, nhưng
thông thường th́ có cái nọ mất cái kia.
Và rồi cuối cùng cũng là cái già, bệnh tật, đến
khi xuôi tay th́ chẳng đem theo được
cái ǵ. Đấy là chưa kể người ḿnh yêu thương
th́ phải chia ĺa, người ḿnh thù oán th́ lại phải
bám víu rứt ra không được, rồi dục vọng
thiêu đốt tâm can, rồi lo sợ mất đi những
ǵ ḿnh đang có, vv...
Vậy
th́ KHỔ là cái đương nhiên ở đời rồi,
chối căiơ làm sao được. Hạnh phúc th́ mong
manh, hư ảo, c̣n cái khổ th́ có thể nh́n thấy được,
sờ thấy được, nghe thấy được,
luôn luôn đầy rẫy quanh ta.
Tại sao ta
không mặc xác thiên hạ, mà lo cho cái thân ta trước đă ? Phật dạy, LÀM G̀ CÓ CÁI TA ! Cái mà ta thường cho là
CÁI TA đó thực ra lại chỉ là một hiện tượng
tạm bợ, phù du như con vờ mà thôi. Từng nháy mắt, biết bao nhiêu tế bào trong
ta chết đi, để được thay thế bởi
các tế bào mới, điều này khoa học đă xác quyết,
khỏi cần bàn thêm. C̣n trong lănh vực
tâm linh, cái mà ta tưởng lầm là linh hồn, thường
hằng bất biến, th́ thực ra lại chỉ là sự
tổ hợp của bốn nhóm tích tập, là cảm giác,
suy nghĩ, ước vọng, và ư thức mà thôi. Cái
phức hợp đó lúc vui, lúc buồn, lúc giận, lúc yêu,
có cái ǵ thực sự làm chủ đâu ?
Cướp đoạt,
áp bức người khác để đem cái lợi cho ta,
sao lại không nên ? Bởi
v́ hiện tượng giới bị chi phối bởi LUẬT
NHÂN QUẢ. Trong khoa học vật lư, định
luật này quá rơ. Ném trái banh lên trời,
do lực hút của quả đất, trái banh sẽ rơi
xuống. Trời lạnh th́ nước
đóng băng. Đun nước tới 100 độ
th́ nước bốc hơi, vv... Trong lănh vực
tâm linh cũng thế. Uống rượu nhiều th́
say, giết người th́ đền tội, ăn cắp th́ đi tù, vv...
Có thể bạn
sẽ nói, biết bao nhiêu kẻ xấu mà được
sung sướng, hưởng đủ mọi thứ trên đời,
trong khi nhiều người lành mà lại chịu mọi
thiệt tḥi. Câu trả lời của Phật giáo là : Nhân đời
này có thể trả quả ngay đời này hoặc trong một
đời sau, quả đời này do nhân đời này hoặc
cũng có thể do nhân kiếp trước. Nhưng
chắc chắn gieo nhân th́ phải trả quả, trừ
khi biết thành tâm sám hối và tự sửa ḿnh.
Làm ǵ có chuyện
đời sau ! Có ai kể lại được
những chuyện đời trước của ḿnh đâu ? Tôi sẽ không tin, chừng
nào mà khoa học chưa chứng minh được là thực
sự có kiếp trước.
Đúng
là có những người, nhất là bên phương Tây, nghĩ
như vậy. Thế nhưng chuyện luân hồi không phải
là lư thuyết xuông, mà là một chuyện các bậc thánh nhân
đă thực chứng. Tuy nhiên, họ hiếm khi nói ra, và nói ra cũng vô
ích mà thôi. Tỷ như tả tuyết Hy Mă Lạp Sơn
cho người c̣n sống đời bộ lạc tại
Phi Châu, nói về tia tử ngoại cho người
tiền sử vậy.
Vậy th́ xin
nhắc lại lời chư Phật dạy
: LÀM LÀNH, LÁNH DỮ, TỰ LÀM CHO TÂM Ư THANH TỊNH.
***
Bài Ba
PHẬT GIÁO
TÍCH CỰC HAY TIÊU CỰC?
Một
trong những nhận định thường nghe nhất
về Phật giáo cho rằng đạo Phật là bi quan yếm
thế, tiêu cực hư vô.
Quả là đạo
Phật mang nhiều đặc điểm khác hẳn các
tôn giáo khác, và tổ chức Phật giáo hiện nay trên thế
giới cũng khá lỏng lẻo, nên nhận dịnh có phần
hời hợt này cũng dễ hiểu, nhất là đối
với những người đứng ngoài nh́n vào đạo
Phật chứ không đích thân tu học.
Tại sao lại
có nhận định sai lầm như trên ?
Thứ
nhất, đạo Phật vô cùng thoải mái về phương
diện thực hành. Bạn không cần phải đến
chùa hàng tuần, nghe các vị tăng thuyết pháp mới được
gọi là Phật tử. PHẬT TẠI TÂM, bạn có
thể chẳng bao giờ đến chùa mà tu tại gia cũng
được. Không ai có thể tự cho ḿnh
độc quyền hiểu Phật mà áp đặt bất
cứ quyền lực nào trên người khác. Các vị sư nếu không chịu khó nghiên cứu
kinh điển th́ cũng có thể có những điều
không biết mà người cư sĩ tại gia nếu chịu
khó t́m hiểu nắm vững hơn. Thành
ra trong đạo Phật không có một hệ thống quyền
uy bất di bất dịch nào cả. Phật
dành cho mỗi người toàn quyền quyết định
vận mệnh của ḿnh. Ngay các vị đă xuất
gia đi tu nếu cảm thấy chưa sẵn sàng chấp
nhận đời sống xuất gia cũng có thể hoàn
tục dễ dàng.
Chính
bởi sự thoải mái này mà nhiều người tự
nhận là Phật tử lại hiểu biết rất sơ
sài về Phật pháp, mà việc tu sửa tính t́nh th́ lại
càng sao lăng hơn nữa. Nhiều khi đến chùa lễ Phật lại
chỉ cầu mong buôn may bán đắt, hoặc bàn chuyện
áp phe, hoặc bói quẻ đầu năm xem tài lộc ḿnh
có khá không. Lại theo những tục cúng kiếng kiêng kỵ,
thật rất xa với lời Phật dạy.
Tự nhận
ḿnh là Phật tử mà học cũng không học, tu cũng
không tu, cho nên chẳng có một căn bản ǵ dù sơ lược
nhất về những điều Phật dạy, ḷng tin
không có, gặp hoàn cảnh không thuận lợi th́ dễ
dàng bỏ đạo để đi theo
đạo khác. Có những người gần cuối đời
cô đơn, lại không được ai hướng dẫn,
nên cuối cùng được người đạo khác
thăm nom săn sóc, liền bỏ ngay đạo Phật để
theo đạo mới.
Đó
là nói về mặt thực hành. C̣n về mặt lư thuyết
th́ nhiều người cho rằng Phật dạy về
khổ có nghĩa là bi quan yếm thế. Lại thêm thuyết vô ngă nữa, làm người
ít trí tuệ rất lo sợ, nghĩ rằng không có chỗ
nào để bấu víu, nhất là quan niệm về Niết
Bàn hoàn toàn sai lạc, cho rằng đó là hư vô. Những
ư niệm quan trọng trong Phật giáo như là diệt dục,
ăn chay, vv... cũng đều không hợp
khẩu vị của những người ham mê vật chất,
thích ăn ngon mặc đẹp, thích tranh thắng, và cho đó
là hạnh phúc ở đời.
Về mặt
tham gia các sinh hoạt thế gian th́ Phật giáo ít khi tham dự
tích cực vào những việc xă hội như phát chẩn,
lập nhà thương, trường học, viện dưỡng
lăo, vv...,và những nhà chân tu đều
xa lánh chính trị, nên một số người nghĩ rằng
đạo Phật không có tinh thần nhập thế và đấu
tranh cho xă hội ngày càng tốt đẹp và tiến bộ
hơn. Lại c̣n có những người nghĩ rằng đạo
Phật là cổ hủ lỗi thời, đi theo đạo của người phương
Tây mới là văn minh tân tiến.
Những
nhận xét nêu trên đều không hẳn là hoàn toàn sai, nhưng
đều phát sinh từ một cái nh́n về triết học
hoàn toàn trái ngược với Phật pháp. Kinh Pháp Cú đă kể lại lời
Phật như sau: " Con đường
danh lợi là một, và đến Niết Bàn là con đường
khác ". Xuất phát từ hai quan điểm
hoàn toàn trái ngược nhau th́ cần phải thảo luận
rất lâu mới đưa đến kết quả thỏa
đáng. Trong phạm vi bài ngắn này, chúng tôi chỉ
xin nêu lên vài ư kiến như sau :
Nhân khi trả
lời một câu hỏi Phật là ǵ, một vị cao tăng
Việt
Đối với
cá nhân một người đă thế, nhưng nếu người
đó lại phát tâm giúp đỡ những người khác
nữa đạt được hạnh phúc như ḿnh,
th́ hạnh phúc c̣n tăng thêm biết là bao nhiêu. " Tự độ độ tha, tự
giác giác tha ". Tự cứu ḿnh, rồi cứu
thêm người khác, tự ḿnh đạt tới minh triết,
rồi giúp những người khác cũng được
như ḿnh, để rồi mỗi người sẽ dần
dần làm chủ vận mệnh của ḿnh, làm chủ hoàn
cảnh của ḿnh. C̣n lư tưởng nào tích cực hơn
thế nữa không ?
***
Bài Bốn
TAM QUY
Muốn
tự nhận là Phật tử, điều đầu tiên
phải làm là Quy Y Tam Bảo, gọi tắt là Tam Quy. Quy có nghĩa là t́m về, y có
nghĩa là nương theo đó, dùng đó
làm chỗ dựa cho ḿnh. Tam Bảo là ba món
quư, đó là Phật, Pháp và Tăng.
Phật gọi
đầy đủ là Phật Đà ( Buddha
), có nghĩa là " Người Giác Ngộ " ( Giác Giả
). Đó không phải là tên riêng mà là một danh
vị. Trong cơi Ta Bà của chúng ta, mới
chỉ có Phật Thích Ca là vị Phật lịch sử mà
mọi người đều biết. Phật Thích
Ca có giảng là trong tương lai, sẽ có một vị
Phật khác ra đời trong cơi Ta Bà này, đó là Từ Thị
( người bạn hiền của
chúng sinh ), sau sẽ thành Phật Di Lặc. Nhưng trong siêu
vũ trụ vô cùng vô tận th́ có hằng hà sa số Phật
khác ở hằng hà sa số quốc độ, thí dụ
như Phật A Di Đà, Phật A Súc, vv... Trong
quá khứ đă có Phật, trong hiện tại cũng đang
có Phật, và trong tương lai cũng lại sẽ có Phật,
nhưng sẽ ở những cơi khác. Phật Thích Ca dạy
rằng mỗi chúng sinh rồi cuối cùng cũng sẽ
thành Phật như Ngài, tuy thời gian tu học sẽ trải
dài trong hằng hà sa số kiếp.
Pháp
là lư, là những định luật trong thiên nhiên và trong cơi
chúng sinh. Pháp đúng
muôn đời, dù có Phật hay không. Nhưng
chỉ có Phật mới thấu rơ Pháp mà chỉ dạy cho
chúng sinh. V́ vậy chúng ta đă có phước rất
lớn là tuy không được sinh trong thời Phật
Thích Ca c̣n tại thế, nhưng vẫn được
nghe lời Ngài dạy qua các kinh điển được
truyền tụng cho tới ngày nay. Pháp gồm
có vô số pháp môn, nghĩa là những cửa để đi
vào Pháp. Thiền là một pháp môn. Tịnh (Tịnh Độ) là một pháp môn khác.
Sở dĩ có nhiều pháp môn là v́ căn cơ chúng sinh
không đều, nên phải có những phương thuốc
đặc biệt cho từng loại chúng sinh. Bởi vậy,
Phật cũng được gọi là bậc Đại
Y Vương. Nhưng bác sĩ có kê bao nhiêu toa thuốc, nếu
bệnh nhân không chịu dùng th́ đó là do lỗi bệnh
nhân, không thể trách móc ai được cả.
Pháp
Phật và pháp thế gian gắn bó với nhau như hoa sen
gắn bó với bùn nhơ. "Tất
cả thế gian pháp đều là Phật pháp". " Phật pháp bất ly thế gian pháp
". Tuy nhiên, trong Phật pháp c̣n có những pháp xuất thế
gian, không nằm trong phạm vi hiện tượng
giới. Nếu ta nguyện tu học theo
Phật th́ cũng có thể đến một lúc nào đó
sẽ thể nghiệm được phần nào những
pháp sâu thẳm này.
Về Tăng,
th́ hiện
nay có những ư kiến trái ngược nhau. Ở một đầu
th́ cho rằng trong tăng đoàn chỉ có các vị xuất
gia và đă thọ cụ túc giới ( tỳ
kheo và tỳ kheo ni ). Ở đầu kia
th́ lại quan niệm trong tăng đoàn, không cần thiết
có các vị xuất gia, mà chỉ cư sĩ cũng đă
là đủ rồi. Định nghĩa thứ ba trung dung
hơn, cho rằng trong tăng đoàn, ngoài các vị xuất
gia, cũng có thể kể thêm các cư sĩ tại gia ( ưu bà tắc và ưu bà di ). Bốn hạng
trên gộp lại thành TỨ CHÚNG TĂNG GIÀ, để phân
biệt với TỨ CHÚNG XUẤT GIA là tỳ kheo, tỳ
kheo ni, sa di, và sa di ni. Những người
trong tứ chúng có sự hiểu biết về Phật pháp
và sẵn sàng chia sẻ với những người khác th́
gọi là Thiện Tri Thức. Ai cũng có khả năng
thành thiện tri thức, nếu cố gắng t́m hiểu
và theo đúng phương pháp do Phật dạy.
Thông
thường, khi một người mới vào đạo
th́ tổ chức lễ quy y tại chùa. Một vị sư
sẽ tiến hành nghi lễ và cho người xin quy y một
pháp danh. Sau đó th́ sẽ không c̣n nghi lễ long trọng
như thế nữa, nhưng người Phật tử
luôn luôn cần lập lại lời nguyện quy y trong khóa
lễ hàng ngày để xác định lại quyết tâm
tu học theo lời dạy của Phật, không lười
biếng xao lăng. Lời quy y bằng Hán Việt như sau :
- Tự quy y
Phật, đương nguyện chúng sinh, thể giải đại
đạo, phát vô thượng tâm.
- Tự quy y
Pháp, đương nguyện chúng sinh, thâm nhập kinh tạng,
trí huệ như hải.
- Tự quy y Tăng,
đương nguyện chúng sinh, thống lư đại
chúng, nhất thiết vô ngại.
***
Bài Năm
NGŨ GIỚI
Quy y Tam Bảo
là lập nguyện đi theo con đường
Phật dạy. Muốn thực hành lời nguyện đó
th́ ta cần phải tuân theo ngũ giới.
Đó là năm điều không nên làm, v́ nếu
làm sẽ tạo nghiệp xấu, sau này bắt buộc phải
trả quả. Nội dung các điều này được
nêu lên trong KINH ƯU BÀ TẮC thuộc bộ Trung A Hàm, trong
đó Phật dạy cách tu cho những người cư sĩ
tại gia, và xác nhận rằng nếu người đó
biết hộ tŕ năm giới và tu tập bốn tăng
thượng tâm th́ sẽ "...DỄ DÀNG ĐẠT TỚI
VÀ AN TRÚ HẠNH PHÚC NGAY TRONG HIỆN TẠI ", và sau khi
qua đời sẽ không bị đọa vào ba đường
ác là địa ngục, ngạ quỷ và súc sinh, đạt
quả Nhập Lưu, chỉ cần qua lại tối đa
bảy lần nữa trong các cơi trời người rồi
th́ sẽ đạt tới biên giới của sự hoàn
toàn giải thoát diệt khổ. "
Về giới
đầu tiên, Phật dạy "...XA L̀A SỰ GIẾT HẠI,
chấm dứt sự giết hại, buông bỏ khí giới,
biết hổ biết thẹn, tập từ tập bi, bảo
hộ cho mọi sinh vật, kể cả các loài côn
trùng. Vị ấy DIỆT TRỪ
TẬN GỐC TÂM NIỆM GIẾT HẠI ..."
Ta thấy lời
Phật dạy rất rơ ràng minh bạch, không một ai có
thể bẻ quẹo để biện minh cho sự giết
chóc. Dĩ nhiên có nhiều sự sát hại xảy ra ngoài ư
muốn của ta, tỉ như khi bước đi, ta đă
vô t́nh dẫm lên trên và làm chết biết bao nhiêu côn trùng. Nhưng
đó là không do ta có tâm giết hại, do đó không phải
là một hành động tạo nghiệp. Tuy nhiên, để
tránh tối đa việc làm cho côn trùng chết một cách
không cần thiết, Phật dạy trong mùa an cư kiết
hạ là mùa côn trùng có nhiều, các vị tu sĩ tránh đi
khất thực để giảm bớt việc làm chết
những côn trùng đó.
Điều thứ
hai, Phật dạy: "... XA L̀A SỰ KHÔNG CHO MÀ LẤY, chấm
dứt sự không cho mà lấy, thường ưa bố
thí, t́m niềm vui trong sự bố thí và bố thí mà không cầu
đền đáp..." Phật dạy DIỆT
TẬN GỐC L̉NG THAM và nuôi dưỡng ḷng thương, bố
thí cứu giúp cho chúng sinh.
Điều thứ
ba, Phật dạy: "...XA L̀A TÀ DÂM, chấm dứt sự
tà dâm, bảo vệ cho bất cứ ai, dù người ấy
nằm trong sự bảo hộ của cha, mẹ, hoặc
cả cha lẫn mẹ, hoặc chị em, hoặc anh em, hoặc
cha mẹ bên sui gia, hoặc gia đ́nh sui gia, hoặc bởi
người đồng tính, hoặc là vợ con hay chồng
con kẻ khác, kể cả kẻ bị cuồng dâm khủng
bố, hoặc kẻ bán phấn buôn hương. Vị này DIỆT TRỪ
TẬN GỐC TÂM NIỆM TÀ DÂM."
Ta thấy Phật
đă dạy người cư sĩ kỹ càng như thế
nào trong vấn đề tà dâm này, đủ cho ta hiểu
Ngài đă quán xuyến
triệt để như thế nào một vấn
đề then chốt trong sinh hoạt con người.
Về điều
giới thứ tư, Phật dạy: "... XA L̀A NÓI DỐI,
chấm dứt sự nói dối, t́m niềm vui trong sự
nói lên sự thật, an trú trong sự thật
không lúc nào đổi dời, có thể tin cậy hoàn toàn và
không bao giờ dám miệt thị kẻ khác. Vị ấy DIỆT
TRỪ TẬN GỐC SỰ NÓI DỐI. "
Đây
là điều mà trong Phật giáo gọi là khẩu nghiệp,
là điều vô cùng quan trọng mà nhiều khi ta coi thường
v́ nó dễ mắc phải quá và có vẻ như không quan trọng
cho lắm. Thực ra th́ tầm quan trọng của nó rất
cao. Ta cứ thấy luật pháp thế gian trên khắp
hoàn cầu đặt nặng vấn đề nói sự
thực trước ṭa án như thế
nào để thấy được tầm quan trọng của
nó. Phật c̣n tiến thêm bước nữa
và dạy ta CẦN TÔI LUYỆN CHO VIỆC NÓI SỰ THỰC
TRỞ THÀNH MỘT THÓI QUEN, đó là điều ta nên để
ư.
Điều thứ
năm, Phật dạy: "...XA L̀A CHẤT SAY, chấm dứt
sự dùng chất say, DIỆT TRỪ TẬN GỐC THÓI
QUEN DÙNG CHẤT SAY. " Phật đă
nh́n thấy rất rơ cái tai hại của
các chất độc tố này, v́ chúng làm cho ta mê muội,
mất đi sự tự chủ, và do đó dễ dàng làm
các chuyện bậy bạ. Có một điều
khác nhau đôi chút giữa các loại tội. Bốn
loại đầu thuộc về
" tính tội ", nghĩa là
trong bản chất chúng đă là tội, không c̣n hồ nghi
ǵ nữa. C̣n về uống rượu th́ đó gọi là
" già tội ", nghĩa là chính việc đó trong bản chất không mang tính tội
lỗi hay không tội lỗi,
nhưng Phật chế định đó là tội để
ngụ ư khuyên răn và cảnh giác chúng ta về sự tai hại
thấy rơ của mọi loại độc tố.
Chúng
ta cũng nên lưu ư một điểm, năm điều
trên được gọi là NGŨ GIỚI, mà không gọi
là GIỚI CẤM.
Có nghĩa là Phật chỉ khuyên ta cần nhận rơ sự
tốt xấu trong các hành động của con người
để tránh việc vi phạm sẽ
gây cho ta nghiệp xấu mà ta phải lănh quả về sau.
C̣n GIỚI CẤM lại có ư nghĩa bắt buộc tuyệt
đối, mà nếu một giới cấm nào không hợp
lư mà ta cứ nhắm mắt tuân theo th́
trong Phật giáo gọi là GIỚI CẤM THỦ, lại là
một tà kiến mà con người cần phải tránh xa. Đạo Phật là đạo PHÁ CHẤP, v́ khi
c̣n chấp trước là ta c̣n lấn cấn, chưa hoàn
toàn thoát khỏi các giây nhợ trói buộc. Nhưng
không phải v́ thế mà ta có thể tự do làm bậy mà
cho rằng ḿnh phá chấp. Tự lừa dối
ḿnh như thế là tự làm hại ḿnh vậy.
Trong kinh này, Phật
cũng có nhắc nhiều tới BỐN PHÁP TĂNG THƯỢNG
TÂM, nghĩa
là những pháp giúp tâm ta tăng trưởng tu hành, đó là
tưởng Phật, tưởng Pháp, tưởng Tăng,
tưởng Giới. Ba phép tưởng đầu đă nêu trong phép Tam Quy, phép
thứ tư thuộc về nội dung bài này. Đó là bốn điều ta nên luôn luôn ghi nhớ.
Xin lập lại
ở đây câu nói mà Phật nhắc nhở nhiều lần
trong suốt bài kinh:
"... NHỜ
TƯỞNG NIỆM... MÀ TÂM TƯ NGƯỜI ẤY LẮNG
TRONG, CÓ ĐƯỢC NIỀM VUI VÀ ĐẠT TỚI TÂM
CAO ĐẸP...,AN TRÚ HẠNH PHÚC TRONG HIỆN TẠI MỘT
CÁCH DỄ DÀNG, KHÔNG KHÓ KHĂN G̀. "
Tam Quy Ngũ
Giới chính là cánh cửa mở ra cho người thực hành tốt được
an vui trong hiện tại và sau khi qua đời được
tái sinh làm người hay lên trên các cơi trời vậy. Chúng ta c̣n chần chừ ǵ nữa mà không phát tâm thực
hiện?
***
Bài Sáu
TAM NGHIỆP
Nghiệp
là ư niệm trung tâm trong Phật giáo. Chúng sinh đều có Phật
tánh, nghĩa là tiềm tàng trong ḿnh khả năng đạt
đến giác ngộ, chứng Niết Bàn như chư Phật. Niết Bàn là cơi tịch lặng,
ở đó không mống lên bất cứ tạp niệm
nào làm khuấy động sự tịch lặng an vui. Niết Bàn ở ngay tại thế chứ không ở
đâu xa. Sau khi Phật Thích Ca chứng quả Bồ Đề,
Ngài vẫn c̣n sống tiếp 45 năm nữa, nhưng Ngài
đă ở trong cơi Niết Bàn rồi. Dù Ngài vẫn sinh hoạt
b́nh thường như mọi người khác, nhưng
Ngài không tạo nghiệp trong hành dộng của ḿnh, và đă
vượt qua ṿng luân hồi quanh quẩn, v́ Ngài đă hoàn
toàn diệt được ái dục dẫn dắt bởi
vô minh, không c̣n bất cứ một lậu hoặc nào nữa.
C̣n
chúng ta c̣n là chúng sinh, th́ tiếp tục tạo nghiệp, từng
giây từng phút, mà thường th́ là nghiệp ác do ái dục
dẫn dắt sai khiến. Có ba loại nghiệp chính, đó là THÂN, KHẨU,
và Ư.
THÂN NGHIỆP
là những hành dộng ta làm, dù xấu hay tốt, là nhân mà
ta tạo ra để rồi sau đó lănh quả. Những
nghiệp xấu trọng đại nhất là sát sinh, trộm
cắp, và tà dâm.
KHẨU NGHIỆP
là những lời nói xấu ác, gồm bốn loại, là
NÓI DỐI, NÓI LỜI THÊU DỆT dễ gây tranh chấp, NÓI
LỜI THÔ TỤC HIỂM ÁC dễ gây sân hận nơi người
khác, và NÓI LỜI VÔ ÍCH dễ làm người khác tán loạn
tư tưởng. Chúng ta rất dễ mắc khẩu nghiệp,
v́ không lường được hết hậu quả tai hại của chúng, cũng như v́ không tự
kiềm chế được ḿnh. Nên nhớ
là viết lách cũng thuộc về nghiệp này.
Ư
NGHIỆP là nghiệp tạo ra ngay từ lúc trong đầu
mống lên một ư nghĩ ǵ. Đây là loại nghiệp quan
trọng nhất mà ta phải hết sức đề cao cảnh
giác. Bởi v́ mọi hành động hoặc lời
nói của con người đều bắt nguồàn từ
đây mà ra cả.
Muốn
cho thân tâm an lạc, ta cần luôn luôn cố gắng làm lành
lánh dữ, tránh mọi ư nghĩ, lời nói hoặc hành động
gây phương hại đến mọi loài và cuối cùng
đến cho chính chúng ta nữa. Đó chính là nội dung chân thực
của chữ TU. Ta cần phải dùng nghiệp lành mà cúng
dường chư Phật, bao gồm ba nghiệp như sau :
1- THÂN NGHIỆP
CÚNG DƯỜNG : đem cái thân thể có
đủ ba nghiệp lành là PHÓNG SINH, BỐ THÍ, và CUNG KÍNH để
dâng lễ chư Phật.
2- KHẨU NGHIỆP
CÚNG DƯỜNG : Dùng cái miệng mang đầy
đủ bốn nghiệp lành là LỜI NÓI CHÂN THẬT, LỜI
NÓI ĐOAN CHÍNH, LỜI NÓI H̉A HIỆP, LỜI NÓI NHU THUẬN,
mà dâng lễ chư Phật và tán thán công đức chư
Phật.
3- Ư NGHIỆP
CÚNG DƯỜNG : Đem cái ư có ba nghiệp lành là KHÔNG THAM,
KHÔNG SÂN, và CHÍNH KIẾN, tức là KHÔNG SI, để mà chí
thành tưởng niệm thân tướng cao đẹp của
chư Phật và dâng lễ lên chư Phật.
***
Bài Bẩy
TÍN
Ḷng
tin là khởi điểm của mọi tôn giáo. Đối vói đạo
Phật cũng vậy. Tin là cội rễ của người
tu hành, gọi là tín căn bổn. Có đức
tin mới vững chắc tiến bước trên đường
tu đạo. Những bậc đại
sư đều có ḷng tin rất kiên cố, vững chắc,
từ đó đạt được nhiều thành quả
phi thường. Như Ngài Huyền Trang bên Trung Hoa, nhờ
ḷng tin kỳ lạ vào Tam Bảo mà vượt qua được
muôn trùng khó khăn, ở vào thời đại kỹ thuật
hết sức thô sơ mà xuyên rừng sẻ núi, băng qua
sa mạc, vượt mọi hiểm nguy, để cuối
cùng đến được Tây Trúc thỉnh kinh đem về
Trung Hoa, khiến Phật pháp được phát triển rực
rỡ nới Đông Độ. Đặc biệt, trong Phật
pháp, ḷng tin không cứ chỉ phát xuất từ một liên
cảm linh diệu, mà cũng có thể phát xuất từ
ḷng nghi lớn về mọi bí mật của cuộc đời.
Do đó mà có câu "
đa nghi đa ngộ ". Chính v́ vậy mà Phật
giáo có một sức quyến rũ lớn
đối với người trí thức phương Tây,
vốn quen suy nghĩ theo luận lư sắc bén. Quả thật,
tất cả những giáo lư căn bản trong Phật pháp
đều hoàn toàn phù hợp với khoa học, và c̣n rất
nhiều điểm vi diệu mà khoa học
chưa đạt tới, nhưng rồi sẽ đạt
tới trong tương lai. Bởi v́ Phật pháp không phải
là sự suy tưởng lư thuyết xuông, mà bắt nguồn
từ sự chứng nghiệm thực tế của bậc
Đại Giác, nh́n rơ mọi lẽ của vũ trụ và
nhân sinh qua con mắt Phật, kết quả của pháp tu Lục
Độ, nhất là sự phát triển trí Bát Nhă, trong hằng
hà sa số kiếp.
Phật pháp
phân biệt hai thứ tín: Chính tín, là tin vào lư nhân quả, và
tin có Phật Pháp Tăng. Ngược với chính tín là tà
tín. Phật nói trong kinh Pháp Hoa là Pháp của Phật,
Trí Huệ của Phật rất sâu xa. Người
trí hiểu được ắt tin hiểu, c̣n kẻ vô
trí th́ sinh ra nghi ngờ. Mà ḷng tin phát xuất
từ sự chính xác của khoa học được kiểm
chúng bằng thực tế th́ không thể mai một được.
Như Galileo tin vào thuyết trái đất h́nh cầu,
Tín
là bước đầu tiên trong việc tu học Phật.
Có được ḷng tin th́ mới có thể thành tựu Phật
đạo. Chính
v́ vậy mà đứng đầu trong Ngũ Căn Ngũ
Lực là ḷng tin ( Tín, Tấn, Niệm, Định,
Huệ ). Trong 52 địa vị của Bồ
Tát trước khi thành Phật, Tín tâm là địa vị đầu
tiên. Trong Tịnh
Độ Tông, Tín là đứng đầu trong ba đức.
Đó là sự tin tưởng sâu xa vào sức tiếp dẫn
của Phật Di Đà như kinh đă dạy về Pháp môn Tịnh Độ.
Những người
nh́n Phật giáo như đơn thuần là triết học,
tâm lư học hoặc đạo đức học là chưa
nh́n thấy hết cái mầu nhiệm của việc tu Phật
vậy.
***
Bài Tám
NGUYỆN
Đă có ḷng
tin rồi th́ phải nguyện tu học theo
lời Phật dạy trong các kinh điển để
thành tựu Phật đạo. Nhất là đă
phát tâm đại thừa, nguyện giúp chúng sinh đạt
thành Phật quả, th́ sự lập nguyện lại càng
quan trọng hơn nữa. Trong Tịnh Độ
Tông, là tông phái dựa nhiều nhất vào tha lực, nguyện
là đức thứ ba, nghĩa là mong mỏi việc văng
sinh, từ khi quy y cho tới lúc mạng chung,
lúc nào cũng nhất tâm như thế. Đối
với người tu Bồ tát đạo, nguyện là một
nét chủ yếu mà người tu phải luôn luôn tâm niệm.
Trong khóa lễ thường tụng Bắc Tông, ở phần
cuối có
bài Phát Nguyện như sau:
Nguyện độ
vô biên chúng sinh,
Nguyện trừ
vô tận phiền năo,
Nguyện học
vô lượng pháp môn,
Nguyện
thành vô thượng Phật đạo.
*
Tự tính
chúng sinh nguyện độ,
Tự tính phiền
năo nguyện trừ,
Tự tính pháp
môn nguyện học,
Tự
tính Phật đạo nguyện thành.
***
Bài Chín
HẠNH
Đă
nguyện rồi th́ phải hành. Tu theo Phật
không phải là học lư thuyết xuông, mà phải hết sức
chú trọng tới việc đem lời nói vào thực tế
cuộc sống hàng ngày. Trong pháp môn Tịnh Độ,
hạnh là đức thứ hai trong ba đức, là sự
nhất tâm niệm Phật, cũng như thực hành các
thiện pháp. Đó gọi là Tín Hành Đạo.
Nhưng cũng c̣n có Pháp Hành Đạo, nghĩa là do thấu
hiểu giáo pháp của Phật nên tu hành đạo lư. Đó là cho những người có khuynh hướng
t́m hiểu, suy nghĩ, đặt câu hỏi cho mọi vấn
đề về vũ trụ và nhân sinh. Đây là trường
hợp áp dụng câu " đa nghi đa
ngộ " vậy. Và một
khi đă ngộ th́ liền thấy cái linh diệu tuyệt
vời của Phật pháp mà phát bồ đề tâm, tu theo
đại thừa, nguyện " tự
độ dộ tha, tự giác giác tha ", giúp ḿnh giúp người
tiến bước trên đường giải thoát.
Khi
đă lập nguyện và gắng sức thực hành ư nguyện
đó th́ gọi là hạnh. Tùy theo căn cơ và ư lực
của từng người mà có nhiều hạnh khác nhau.
Tuân theo ngũ giới là loại hạnh
cho giới tại gia. C̣n cho giới xuất gia th́ có những
hạnh nghiêm cẩn khó khăn hơn, như hạnh ngủ
ngồi, hạnh đầu đà, nghĩa là người tỳ
kheo tuân theo 13 giới mục. Tu theo Bồ
Tát đạo th́ có hạnh Bồ Tát, nghĩa là thực
hành lục độ, hay sáu ba la mật, sáu pháp môn giúp người
tu mấp mé đến được bến bờ của
chư Phật, cứu độ chúng sinh chứ không như
những bậc Thanh văn tu theo Tiểu Thừa, chỉ
mong được quả A La Hán để thoát khỏi
sinh tử luân hồi. Những bậc Bồ
Tát nêu trong các kinh điển đều lập những đại
nguyện khó nghĩ bàn. Tỷ như Phổ Hiền Bồ
Tát trong Kinh Hoa Nghiêm lập mười đại nguyện,
Phật Dược sư Lưu Ly Quang Như Lai khi c̣n là Bồ
Tát lập 12 đại nguyện, Phật A Di Đà khi c̣n
là Bồ Tát lập 48 đại nguyện, vv... V́ thực hành viên măn những đại nguyện
mà trở thành Phật vậy.
***
Bài Mười
SÁM HỐI
V́ vô minh mà con
người đă phạm biết bao nhiêu tội về thân
khẩu ư từ vô thủy cho đến nay. Đă
gây ba nghiệp ác, muốn tội chướng tiêu trừ
th́ phải sám hối. Sám hối là kể
rơ các tội lỗi ḿnh phạm, cũng như nguyện cố
gắng sửa đổi để sau này không phạm vào
các tội trên nữa. Được như
vậy th́ tâm sẽ tịnh, tội sẽ tiêu. Phật
nói trong Kinh Đại Tập một đoạn như sau :
"
Như áo dơ trăm
năm, một ngày nào đó, đem giặt th́ sẽ được
sạch sẽ. Như thế, trong trăm ngàn
kiếp đă tạo các nghiệp chẳng lành, dùng lực
Phật pháp, khéo thuận suy nghĩ, một lúc nào đó
trong ngày nào đó, sẽ được tiêu diệt hết
tội. "
Trong tăng đoàn
của Phật, hàng tháng cứ vào ngày rằm và mồng một,
chư tăng tụ họp lại và đọc
giới bổn, rồi sau đó ai có phạm các giới th́
phải công khai sám hối giữa tăng chúng để được
chứng minh và xả đọa cho. Người
nào biết tội của người khác cũng tự đứng
ra nêu lên để giúp người mắc lỗi sửa chữa.
Đây gọi là lễ Tự Tứ.
Về giới
cư sĩ tu tại gia theo ngũ giới th́ ngay trong khóa kinh nhật tụng,
luôn luôn có phần sám hối, với bài kệ như sau:
Tội từ
tâm khởi, đem tâm sám,
Tâm được
tịnh rồi, tội liền tiêu
"
Tội tiêu tâm tịnh
", thảy đều không,
Thế
mới thật là chân sám hối.
Tại sao ta lại
phải sám hối hàng ngày ? Bởi v́ sống ở trên đời, hàng ngày phải
đối phó biết bao nhiêu t́nh huống để sinh tồn,
th́ sự gây ác nghiệp là chuyện thường xuyên xảy
ra, dù chưa được thực hiện nhưng trong ư
tưởng hẳn đă mống lên. Hơn nữa,
trong hằng hà sa số kiếp mà ta đă
trải qua, số tội chướng lại c̣n nhiều
vô kể. Khi ta có tâm sám hối th́ căn lành huân tập, những
tội chướng đó sẽ dần dần được
lắng xuống, như những vẩn đục trong một
ly nước sẽ được lắng xuống đáy
ly. Đặc biệt trong vấn đề
tâm, tội sám là tội diệt, việc sám hối có tác dụng
thanh tẩy, chất cặn ở đáy ly như được
xả ra hết, tâm định và trở lại thanh tịnh.
Trong con người ta, cái quan trọng nhất
là ư thức. Trong nhất cử nhất động,
ta cần xem xét tính thiện ác của chúng để cố
gắng làm lành lánh dữ. Ta cần thấy một điều
là nếu gây tội mà cứ che dấu th́ tội không hề
tiêu tan đi mà cứ chất chứa trong người, làm
thân tâm lúc nào cũng bứt rứt khó chịu, u uất buồn
phiền. Chỉ có một cách xả tội là phải thú tội
và sau đó ăn năn hối cải. Có như vậy th́ tội chướng mới được
tiêu trừ, thân tâm mới trở lại an lạc. Đối
với chư tăng th́ như đă
tŕnh bày ở trên. C̣n đối với hàng tu tại gia th́
không có quy định bắt buộc phải thú tội với
một vị tăng nào đó, mà ta có thể kể lại
với người bạn nào mà ta tin tưởng nhất.
Người đó, trong t́nh huống của từng
cá nhân, có thể coi như là hiện thân của Quán Thế
Âm Bồ Tát, hóa thân của Phật vậy.
***
Bài Mười
Một
TAM HỌC
Tam
học là ba môn mà ta phải thực hành thường xuyên để
tự cải tiến ḿnh, đó là GIỚI, ĐỊNH, và
HUỆ.
Về GIỚI
th́ đối với người cư sĩ tại gia,
cái gốc thực hành là ngũ giới như đă nêu trong
bài Năm. Ngoài ra, để tránh sự giết hại sinh
vật, nên cố gắng ăn chay càng nhiều càng tốt.
Về phương diện ǵn giữ sức khỏe, th́ việc
ăn chay làm cho ta tránh được nhiều biến chứng
về tim mạch và các chứng ung thư,
điều này khoa học đă xác định. Và tuy không bắt
buộc phải ăn chỉ một bữa cơm trong
ngày, nhưng nếu ta tập thói quen ăn bữa trưa
trước Ngọ là bữa quan trọng nhất như Phật
Thích Ca và các đệ tử của Ngài đă làm, c̣n ban chiều
th́ hoặc nhịn, hoặc chỉ ăn nhẹ nhàng gồm
hoa quả, th́ điều đó cũng giúp nhiều cho việc
giữ ǵn sức khỏe tốt.
Về ĐỊNH
th́ đó là phương pháp ngồi thiền và tĩnh tâm,
nghĩa là trong khi ngồi yên lặng, th́ ta tập trung tư
tưởng vào một đề mục ǵ đó, như
quán hơi thở, quán từ bi, vv... Có nhiều
phương pháp ngồi thiền, trong đó không ít phương
pháp nằm ngoài Phật pháp. Nên nhớ ngồi thiền,
nếu không theo đúng pháp của Phật,
th́ chỉ là một phương pháp điều thân mà thôi. Trong Ấn Độ giáo là các phép yoga, trong thời
mới bây giờ th́ có nhiều phép tu tiên. Mỗi phép đều
mang lại một số ích lợi nào đó, nhưng chúng đều
không đạt tới cứu cánh vi diệu
như trong Phật pháp.
Cái phân biệt
căn bản làm cho thiền trong Phật pháp khác với ngoại
đạo chính là trong lư thuyết, mà ta gọi là Phật
pháp. Ngoại đạo th́ chỉ mong cầu đến được
những tầng trời sắc và vô sắc, cũng như
đạt tới một số thần thông, nhưng ngoại
đạo thảy đều đề cao cái Ngă, do đó
không nằm trong Phật pháp.
Ta cũng nên
biết, đến mức độ cao nhất, th́ thiền
ngồi không phải là phương pháp độc nhật.
Đi, đứng, nằm, ngồi đều
là thiền cả. Đặc biệt, có phương
pháp Thiền đứng do Tổ Bồ Đề Đạt
Ma lập ra, gọi là DỊCH CÂN KINH, rất
thích hợp cho con người năng động trong thời
đại này.
Sự
t́m hiểu và đưa vào thực hành Phật pháp chính là
môn học thứ ba, HUỆ. Muốn phát huy trí huệ, cần
t́m đọc và suy ngẫm cho thật tận tường
những lời dạy của chính Đức Phật trong
các kinh điển được truyền thừa cho tới
ngày nay. Có hai hệ kinh điển, một là theo
Dù
sao th́ trong cơ bản, cả hai hệ kinh đều có
những điểm giống nhau cho thấy nội dung lời
Phật dạy khác hẳn với các giáo lư ngoại đạo. Những nét căn bản về
lư của Phật pháp đă nêu lên trong hai bài đầu của
tập tài liệu này.
Ba
môn học giới định huệ là đi song song và
không tách rời nhau. Phải thực hành cả ba cùng một lúc th́ mới
là người Phật tử đúng nghĩa, và mới có lợi
lạc lớn lao. Tuy nhiên, không phải
ai cũng có căn cơ giống nhau, nên tông phái Tịnh Độ
chỉ đặt nặng tín ngưỡng A Di Đà vẫn
được nhiều người ưa chuộng, và cũng
vẫn mang lợi lạc lớn đến cho người
tin tưởng.
Bài Mười
Hai
TỨ VÔ LƯỢNG
TÂM
TỨ
VÔ LƯỢNG TÂM có nghĩa là bốn trạng thái tâm linh
mang đến lợi lạc vô lượng. Đó là TỪ, BI,
HỈ, và XẢ.
TỪ là ḷng
nhân ái, đến với muôn loài với ṿng tay
rộng mở như một người bạn, sẵn
sàng chia sẻ vui buồn, hoặc hiện diện bên cạnh
trong lúc khó khăn. Người có tâm từ là
người trung thực, tín nghĩa, làm cho người
khác có thể đặt hoàn toàn tin tưởng để
chia sớt trong lúc khó khăn bấn loạn. Người có tâm từ không vụ lợi mà luôn
luôn nghĩ đến người bạn ḿnh, đến hạnh
phúc an lạc của người bạn ḿnh.
BI
là sự thương người thương vật. Người có ḷng bi luôn luôn sẵn
sàng đến với người họa nạn dù người
đó có quen biết với ḿnh hay không. Người có ḷng
bi luôn luôn sẵn sàng đem của cải thân mạng của
ḿnh mà cung hiến cho kẻ khác. Đối với
những người đang lâm vào trong cảnh hoạn nạn
khốn cùng, th́ người có ḷng bi trở thành một bảo
vật vô giá. Đó là lư do tại sao rất nhiều
người tôn thờ Quán Thế Âm Bồ Tát, v́ Ngài chính là
biểu tượng của tâm Đại Bi.
HỈ là tâm sẵn
sàng vui với cái vui của người khác. Điều
này xem qua tưởng là dễ mà thực ra lại rất
khó. Chỉ những người không nghĩ
đến bản thân ḿnh mới dễ dàng có đức
tính này. Thông thường, con người hay có tính đố
kỵ, không muốn người khác khá hơn ḿnh, thường
dễ nảy ra ḷng ghét ghen, rồi từ đó đưa đến
nói xấu, đặt điều vu cáo, trù ểm cho người
khác phải kém ḿnh mới chịu. Cho nên người
có tâm hỉ lúc nào cũng vui, v́ lấy cái vui của người
khác làm chính cái vui của ḿnh.
XẢ
là tâm tha thứ, bỏ qua tất cả những lỗi lầm
của người khác. Điều này cũng rất khó thực hiện,
v́ trong cuộc sống, ta thấy rẫy đầy những
thí dụ tội ác gây ra là do oán cừu, nhiều khi lại
truyền từ đời này sang đời khác nữa.
Trong Tứ Vô
Lượng Tâm, TỪ đứng đầu, bởi v́ khởi
nơi tâm từ, những tâm c̣n lại rất dễ nảy
sinh theo. Chính v́ vậy mà Đức
Di Lặc, vị Phật tương lai trong cơi Ta Bà của
chúng ta đây, có tên là TỪ THỊ, nghĩa là người
bạn hiền của chúng sinh.
***
Bài Mười
Ba
LỤC ĐỘ
LỤC ĐỘ,
cũng gọi là sáu ba la mật, là sáu pháp đưa những
bậc giác hữu t́nh, gọi là Bồ Tát, sang bến bờ
giải thoát. Đây là nét căn bản trong Phật giáo Đại
Thừa, nghĩa là Bắc truyền. Sáu pháp đó là:
BỐ THÍ
TR̀ GIỚI
NHẪN NHỤC
TINH TẤN
THIỀN ĐỊNH
TRÍ HUỆ
BỐ
THÍ là sự rộng răi cung hiến của cải, hiểu
biết, ngay đến cả sinh mạng nếu cần, để
giúp cho các chúng sinh đang gặp hoạn nạn cần cứu
giúp. Có ba loại
bố thí, THÍ TÀI, cho của cải, cơm áo, chỗ ở,
vv..., THÍ PHÁP, cho sự hiểu biết đúng đắn để
giúp cho người được cho có chỗ dựa về
tinh thần, và THÍ VÔ ÚY, cho sự không sợ sệt. Thí vô úy là kết quả tự nhiên của thí pháp,
v́ khi đă hiểu tận tường và thực hành Phật
pháp, th́ sẽ không c̣n thấy phải sợ sệt cái ǵ nữa.
TR̀ GIỚI là
tránh tất cả các pháp ác mà chỉ làm pháp thiện, nêu gương
tốt cho người khác đi theo.
NHẪN NHỤC
là có sức chịu đựng lớn lao, không khi nào nổi
giận, đối với mọi người lúc nào cũng
chỉ có ḷng từ ái nhu ḥa, cảm hóa được những
người có tâm độc ác nhất phải thay tâm đổi
tính, trở lại với căn lành.
TINH
TẤN là luôn luôn cố gắng không ngừng nghỉ, không
bao giờ sao lăng trong việc tu tập. Đây cũng là yếu tố
vô cùng quan trọng của Phật pháp, đến nỗi lời
dạy cuối cùng của Phật Thích Ca trước khi Ngài
nhập diệt là : "Những ai tinh tấn
trong pháp luật của ta sẽ diệt trừ sanh tử
và chấm dứt khổ đau."
THIỀN
ĐỊNH là sự tập trung tư tưởng với
mục đích đạt đến cứu cánh Niết Bàn
chứ không như trong các lối định của ngoại
đạo, c̣n vướng mắc trong luân hồi, c̣n mang
nhiều lậu hoặc.
Cuối cùng là
TRÍ HUỆ, nghĩa là trí Bát Nhă, sự thấu hiểu chiều
sâu của Phật pháp như đă nêu trong các kinh điển,
mà đỉnh cao là Tam Pháp Ấn: KHÔNG, VÔ TƯỚNG, VÔ
TÁC. Đây là yếu tố vô cùng quan trọng
làm cho Phật giáo khác hẳn những hệ thống tư
tưởng khác. Chính v́ vậy mà đứng
đầu trong các Bồ Tát là VĂN THÙ SƯ LỢI BỒ
TÁT, hay cũng gọi là ĐẠI TRÍ BỒ TÁT. Khi đă
có trí huệ th́ tất cả các pháp khác tự nhiên có một
nội dung sâu sắc khác hẳn sự thực hành theo bản năng, hoặc theo người
khác nói, hoặc theo sách vở.
***
Bài Mười
Bốn
HỒI HƯỚNG
Hồi hướng
có nghiă là đem các lợi lạc của thiện nghiệp
do ḿnh tạo được mà cúng dường Tam Bảo
và chuyển giao đến cho khắp chúng sinh, chứ tự
ḿnh không nhận lấy lợi lạc đó. Đây
là một nét lớn trong tư tưởng Đại Thừa,
thực hành Bồ Tát Đạo. Bồ
Tát là người luôn luôn quên ḿnh, mà chỉ thấy chúng sinh
với ḿnh không hai không khác. Hồi hướng chính là
thực hành pháp Bố Thí theo Bồ Tát Đạo
vậy.
Trong khóa kinh nhật
tụng của Bắc Tông, luôn luôn có bài Hồi Hướng
trước khi kết thúc khóa lễ như sau:
Nguyện đem
công đức này
Hướng về
khắp tất cả
Đệ tử
và chúng sinh
Đều
trọn thành Phật Đạo.
Ta nên nhớ,
Bồ Tát không ở đâu xa lạ mà có thể là chính chúng
ta đây, một khi chúng ta dốc ḷng tin Phật và thực
hành các pháp Lục Độ như đă nêu trong bài thứ
Mười Ba. Ta phải hiểu, về lư, Bồ Tát là bất
cứ cái ǵ giúp cho chúng sinh diệt phiền năo lo sợ để
đến được an vui. Đó là
theo đúng ư nghĩa của "HÓA
THÂN" trong Phật đạo. Bồ tát là
thiên h́nh vạn trạng, thiên biến vạn hóa. Nếu trong một niệm, ta khởi tâm lành cứu
giúp người hoạn nạn, th́ chính trong niệm đó
ta đă là hóa thân của Bồ Tát vậy. Nhưng để
được là Bất Thối Bồ Tát, nghĩa là Bồ
Tát không phải quay lại hàng chúng sinh nữa, th́ điều
tối quan trọng, có tính cách bắt buộc, là PHẢI CÓ
NIỀM TIN VÀO PHẬT. Lúc đó sẽ tiến được
vào cơi Sơ Địa Bồ Tát, bậc
thấp nhất của mười bậc. Sau đó, tùy theo sự phát huy của trí huệ và sự
nghiêm tŕ các hạnh, mà sẽ dần dần tiến lên các vị
thế cao hơn. Tuy nhiên đối với thường
nhân chúng ta, đến được mức sơ địa
Bồ Tát đă là một bước tiến nhảy vọt
rồi. Muốn có ḷng tin kiên cố, ta phải gắng
sức t́m hiểu ư nghĩa sâu xa của lời Phật dạy
qua kinh điển, và gắng thực hành ngũ
giới. Như đă nêu trong bài Năm, làm như
thế cũng đủ cho ta tiến vào quả vị Nhập
Lưu, tức được vào ḍng thánh đạo rồi.
Đó chính là Bất Thối Bồ Tát trong quan
niệm Đại Thừa vậy.
Bài Mười
Lăm
BIỂN CHÂN NHƯ
Trong
mười bốn bài trước, chúng tôi đă nêu lên đại
lược các nét chính của Phật giáo, về lư cũng
như sự, nghĩa là về lư thuyết cũng như thực
hành.
Để tạm
kết thúc loạt bài này, chúng tôi xin nêu lên một ư niệm
vô cùng vi diệu của Phật pháp, đó
là BIỂN CHÂN NHƯ.
BIỂN CHÂN NHƯ,
cũng gọi là KHÔNG HẢI, là chỗ vi
diệu tột cùng của Phật pháp. Ở đó
không c̣n có nói năng, phân biệt, không c̣n có h́nh tướng,
xấu đẹp, nhơ sạch, tăng giảm, "không
sinh không diệt, không thường không đoạn, không một
không khác, không lại không đi" như Ngài Long Thọ, một
bậc Đại Sư của Phật giáo Ấn Độ
đă có nói.
Bởi
nó không sinh không diệt, nên nó như có như không. Bởi nó không thường
không đoạn, nên nó không mắc vào các cuộc căi cọ
thị phi vô bổ. Bởi nó không một không khác, nên
nó không là lư do để tranh đua hơn kém cho bất cứ
một h́nh tượng nào như cái tuyệt đối mà đả
phá, bài bác các h́nh tượng khác. Bởi nó
không lại không đi, nên đó là NHƯ LAI. Đó là cái thể tính CHÂN KHÔNG DIỆU HỮU của
CHÂN NHƯ. Khi không th́ không thấy đâu,
nhưng khi có th́ là sự hiện hữu kỳ diệu mà
chỉ có người đạt đạo mới thấu
hết cái diệu lư. Trong cơi nhiệm mầu này, "sắc chẳng
khác không, không chẳng khác sắc, sắc tức là không,
không tức là sắc, thọ tưởng hành thức cũng
là như thế." Trong cơi nhiệm mầu này, PHIỀN NĂO TỨC BỒ
ĐỀ, SINH TỬ TỨC NIẾT BÀN, Phật và chúng sinh
không hai không khác. Hiểu được điều
này là đang ở trên đường tiến đến
TRÍ BÁT NHĂ, gồm:
B̀NH ĐẲNG
TÁNH TRÍ
(
nh́n mọi thứ
đều b́nh đẳng như nhau )
DIỆU QUAN
SÁT TRÍ
(
quán sát và thấu
hiểu hiện tượng giới một cách vi diệu
)
THÀNH SỞ TÁC
TRÍ
(
thực hành y theo
pháp một cách tự nhiên như bản tính ḿnh vậy )
ĐẠI
VIÊN CẢNH TRÍ
(
nh́n thấu mọi
cơi như trong một tấm gương tṛn đầy )
Có
được Trí Bát Nhă là vào được Biển Chân Như,
là giải thoát, giải thoát tri kiến, là mấp mé đến
được bến bờ của Chư Phật vậy.
***
Xin vui ḷng góp ư
cho:
phatvu3@yahoo.com
Xin cám ơn
***