SỰ GẶP GỠ CỦA PHẬT GIÁO VỚI TÂY PHƯƠNG
(từ trang 314 đến 323)
Trần
văn Kha dịch
La Rencontre du Bouddhisme et de l’Occident
par Frédéric Lenoir
MỘT TRÍ
TUỆ THẾ TỤC MỚI
Frédéric Lenoir năm nay (2002) 40 tuổi,
tiến sĩ xă hội học và là một nhà nghiên cứu về
tôn giáo ở "Centre d’Etudes interdisciplinaires du Fait
religieux" (EHESS), đồng tác giả "Encyclopédie des
Religions", và hợp tác với báo "L’Express".
Sau đây là một đoạn trích
dịch từ trang b́a sau:
"Tác phẩm này đồng thời
giúp cho chúng ta hiểu tại sao, sau sự thất bại
của những lư tưởng vĩ đại về tôn
giáo, khoa học và chính trị, Phật Giáo càng ngày càng
được nhiều người ở Tây phương
quan tâm tới. Nhiều người, thực ra, nhận
thấy trong tư tưởng Phật Giáo một thứ
tâm linh thế tục, một thứ triết học nhân bản
và một nền đạo đức có trách nhiệm thích
nghi để giải đáp những nhu cầu tâm linh
của cá nhân và những thách đố lớn lao của
thế kỷ sắp tới (XXI). Đặt ưu tiên cho
hành động tới cá nhân hơn là thế giới và
đem lại một sự thăng bằng đúng mực
giữa lư trí và linh cảm, Phật Giáo phải chăng
được mời gọi để sửa chữa
những quá độ của một nền văn minh Tây
phương quá đặc biệt chú trọng vào hiểu
biết kỹ thuật, bỏ quên tri giác và nội tâm".
![]()
Trái với sự vận động
đăc biệt Tây phương có khuynh hướng dành
ưu tiên cho hành động tới thế giới thay v́
cho con người, Phật Giáo phản ảnh rơ ràng thái
độ Đông phương với tính cách hướng
nội và vận động con người. Không rơi vào
trong một cách nh́n khôi hài – rất nhiều người Tây
phương, những trường phái trí tuệ Hi-lạp
và tu viện ky-tô hiện diện để chứng minh
điều đó, đă thực hành sự t́m hiểu
nội tâm và sống một đời sống chiêm
ngưỡng -, nhưng người ta vẫn có thể
nhấn mạnh rằng hai đặc tính chủ yếu
đó chỉ được tăng cường kể
từ thời kỳ Phục Hưng, ít ra là đối với
Tây phương. Tuy nhiên thái độ của Tây
phương chứng tỏ, bây giờ, sự giới
hạn của nó bằng hai cách hoàn toàn khác biệt nhau.
Một
cuộc cách mạng tâm linh
Sự thất bại của những
lư tưởng, trước hết, biểu lộ
những giới hạn của khái niệm hoàn toàn chính
trị, quyết tâm và tập thể về tiến bộ
và giải thoát loài người. Đúng như Jean-Francois
Revel đă nhắc lại, "quan
niệm chỉ đạo của thế kỷ Ánh Sáng, và
sau này, của chủ thuyết xă hội khoa học Marx và
Lénine, là, kể từ nay, sự liên kết hạnh phúc
với công bằng không c̣n phải đi qua một sự
t́m kiếm trí tuệ cá nhân, mà bởi sự tái xây dựng
toàn thể xă hội. Và, để xây dựng xă hội
mới ấy, th́ phải trước hết phá hủy
hoàn toàn xă hội cũ. Chính là vào cuối thế kỷ
XVIII mà khái niệm về cách mạng mang ư nghĩa hiện
đại. Sự giải phóng cá nhân kể từ đó
lệ thuộc vào giải phóng tập thể". V́
muốn xây dựng hạnh phúc cá nhân, cộng sản đă
đẩy tới cùng cái lô-gic ấy và sáng tạo ra
một bộ máy toàn trị vĩ đại nhất trong
lịch sử loài người. Kể từ khi thất
bại đau đớn, vấn đề t́m kiếm trí
tuệ và theo đuổi hạnh phúc cá nhân lại trỗi
dạy ở Tây phương sau một thời gian dài ch́m
trong bóng tối. Sau sư sụp đổ những hệ
thống vĩ đại có ư nghĩa tôn giáo và chính trị,
con người mới bây giờ phải chính ḿnh t́m
lời giải đáp cho những vấn đề
hiện thực mà họ đặt ra.
Từ đó ta có thể hiểu
tại sao người ta chứng kiến từ chục
năm nay, ở Pháp và nhiều nước Âu-châu khác,
một sự chú ư khác thường tới triết học
và tâm linh. Sự chú ư đó được biểu lộ
trước hết bởi ḷng mong mỏi được
"sống tốt đẹp hơn". Những sách
triết bán chạy là những sách viết về sự
khôn ngoan thông dụng chứ không phải về lô-gic
trừu tượng, và những sách tôn giáo viết về
tâm linh cá nhân chứ không phải giáo điều và luân lư.
Sự đ̣i hỏi của quần chúng hoàn toàn
hướng về những đề tài, như t́nh yêu,
sự chết, đức hạnh, hạnh phúc, và những
tác giả được đọc nhiều nhất
trước hết đều là những triết gia
thời Cổ hay những nhà thông thái Đông phương.
V́ sự lu mờ của trí tuệ ở Tây phương
không phải chỉ do tầm quan trọng dành cho chính
trị từ hai thế kỷ nay. Điều này cũng do
sự kiện là theo truyền thống, triết học
phải duy tŕ sự sống động và phát triển
của trí tuệ th́ lại bỏ rơi nó.
Chính trong bối cảnh đó mà ta
định gía sự thành công của Phật Giáo, tôn giáo này
có hai ưu điểm, vừa trí tuệ vừa là con
đường tâm linh thực dụng. Michel Hulin giải
thích việc ấy như sau: "Cần
phải hiểu sự chú ư tới triết học Phật
Giáo trong bối cảnh rất bi đát của triết
học Tây phương bây giờ. Thực ra, từ hai thế
kỷ nay tất cả những vấn đề vĩ
đại mà triết học Tây phương xây dựng
xung quanh đều đă bị đánh bại một cách
thảm hại. Cái mà Kant gọi là ba quan niệm siêu
việt đă bị phá vỡ; đề tài tỉ dụ
như cái tôi thực chất, thế giới như là
một tổ chức những hiện tượng trong
thời gian và không gian, Thượng Đế như là
một tư tưởng tổ chức toàn thể
những cái hiện hữu. Đă soi ṃn chính những
gốc rễ của ḿnh, tư tưởng triết
học Âu-châu bây giờ ở trong một t́nh trạng hoàn
toàn tuyệt vọng. Nó đă phát triển ra mặc cảm
tự ti đối với những môn khoa học chính xác
để rồi phó thác cho khoa học sự giải thích
thế giới. Một mặt nó phát triển tới
một thứ hư vô, mặt khác nó trở về với
những vấn đề khiêm tốn và kỹ thuật,
tỉ dụ như phân tích ngôn ngữ. Đó là, bên cạnh
nhiều khía cạnh khác, một trong những lư do v́ sao
triết học Phật Giáo gây nên một sự hấp
dẫn lớn lao hiện nay ở Tây phương. Thực
ra th́ Phật Giáo thoát ra khỏi những sai lầm bị
chỉ trích: đối với Phật Giáo không có con
người thực chất (con người cứ
tiến tới măi măi) ; Phật Giáo đứng trong một
nấc thang thời gian và không gian vô tận; Phật Giáo
không có quan niệm về một Thượng Đế
sáng tạo. Hơn thế nữa, Phật Giáo không có tham
vọng cung cấp một giải thích toàn thể và
tổng hợp về thế giới. Bằng một cách
riêng biệt, Phật Giáo cho phép tái tiếp xúc sự
thắc mắc triết học với những vấn
đề ư nghĩa sự sống và sự giải thoát,
những vấn đề này đă bị tư
tưởng triết học Tây phương hiện
đại bỏ qua".
Kể từ chuyến du hành
đầu tiên sang Tây phương, năm 1973, Đức
Đạt-lai Lạt-ma đă hiểu rơ sự đ̣i
hỏi đó của người Tây phương và luôn luôn
tŕnh bày Phật Giáo như là một thứ "tâm linh
thế tục", hoàn toàn thích hợp với người
không đức tin. Xin nhắc lại rằng Phật Giáo
bao giờ cũng chủ trương một "cuộc
cách mạng nội tâm", nghĩa là sự trở về
và công tác với chính ḿnh, Ngài nhấn mạnh rằng đó
chính là cái ch́a khóa của hạnh phúc cá nhân, mà cũng là
của tập thể. Như vậy, trong tác phẩm
mới nhất, Ngài giải thích: "Những thứ đến với ta từ bên ngoài,
như chiến tranh, bạo động và tội ác, hay nó
xuất hiện trong ta dưới h́nh thức đau
khổ tâm lư và t́nh cảm, những vấn đề đó
vẫn không thể giải quyết, bao lâu mà chúng ta
tiếp tục không biết đến chiều nội tâm
của chúng ta. Chính sự ngu dốt đó đă giải
thích rằng không một trong những lư tưởng vĩ
đại đem ra thực hành từ 100 năm nay – dân
chủ, tự do, xă hội – đă có thể đem lại
những lợi ích toàn cầu mà nó chủ trương cung
cấp. Không c̣n phải nghi ngờ ǵ nữa, cần
phải có một cuộc cách mạng. Nhưng không phải
một cuộc cách mạng chính trị, kinh tế hay
kể cả kỹ thuật. Thế kỷ này đă
biết quá đủ về những cuộc cách mạng
đó, để chúng ta nhận thức rằng kể
từ nay, một giải pháp hoàn toàn ở bên ngoài không
thể đủ. Cái mà tôi đề nghị là một
cuộc cách mạng tâm linh". Cái quan niệm cho
rằng thế giới sẽ thay đổi nếu
mỗi một người bắt đầu làm cho ḿnh
tốt hơn lên đă càng ngày càng chinh phục được
nhiều người Tây phương. Và một trong
những lực vĩ đại của Phật Giáo, là nó
không chỉ bằng ḷng với việc khoe khoang một
sự thông thái về hạnh phúc; nó cung cấp những
phương thức cụ thể, những kỹ
thuật, những phương pháp giúp cho cá nhân khám phá
vũ trụ bên trong, thực hiện một công tác với
chính ḿnh, chữa lành những vết thương t́nh
cảm, tiếp xúc với ḷng từ bi tích cực. Hơn
thế nữa, nó cung cấp, cho những người Tây
phương trở nên nghi ngờ những bài diễn
văn đẹp đẽ về tâm linh, tỉ dụ
sống động của một số thày tâm linh, các
vị này chứng minh, bằng hào quang của họ,
sự hữu hiệu của những kỹ thuật
đó.
Do đó người ta hiểu tại
sao Phật Giáo lôi cuốn được nhiều
người Tây phương, không phải chỉ những
người đi t́m một "đời sống
tốt", theo như quan niệm của những
người Cổ, vừa được đề cao
mới đây bởi André Comte-Sponville và Luc Ferry (tác giả
"La Sagesse des modernes") mà cả những chuyên viên
nghiên cứu về xúc động, tinh thần hay tâm linh.
Chúng ta đă đề cập tới trong chương
trước sự quan tâm nhiệt liệt của một
số những nhà tâm lư và phân tâm học đối với
phương pháp Phật Giáo về quan sát và ḥa hợp
nội tâm. Tư mười năm nay, th́ chính những
chuyên viên về môn khoa học thần kinh lại say mê cái
cách mà những Lạt-ma Tây-tạng ḍ xét nội tâm con
người. Đến từ Âu-châu hay nước Mỹ,
một số những nhà khoa học đó tiếp xúc đều
đặn với Đức Đạt-lai Lạt-ma ở
Ấn-độ. Người vận động chính cho
những cuộc gặp gỡ đó là Francisco Varela,
một nhà nghiên cứu xứ "Chili" (Nam Mỹ)
sống ở Paris. Là một nhà thần kinh sinh vật
học, giám đốc nghiên cứu ở CNRS (Centre national
de la recherche scientifique, Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa
học), ông điều khiển một toán nguời nghiên
cứu ở pḥng thí nghiệm tâm-vật lư nhận thức
(psycho-physiologie cognitive) ở bệnh viện Pitié-Salpêtrière.
Ông là tác giả nhiều tác phẩm, và rất nhiều
những tác phẩm đó tŕnh bày sự liện hệ
giữa khoa học nhận thức và Phật Giáo, và
giải thích những lư do làm cho những chuyên viên về
"khoa học nhận thức" quan tâm nhiều tới
Phật Giáo.
Những người Âu-châu đă
tiến rất xa trong việc nghiên cứu nguyên nhân của
những hiện tượng tự nhiên, nhưng các
bậc thày tâm linh của Phật Giáo lại giỏi hơn
chúng ta rất nhiều trong sự hiểu biết những
hiện tượng của tâm. Trong khi nhà khoa học Tây
phương, tỉ dụ như, cố gắng t́m
hiểu hiện tượng rơi của các vật,
triết gia thiền Phật Giáo đă cố gắng
từ 2.000 năm nay để hiểu hiện
tượng tâm linh như là quan hệ nguyên nhân. Toàn thể
Phật Giáo, thực ra, chỉ là phương pháp nghiên
cứu tỉ mỉ đời sống nội tâm, tinh
thần và tâm linh. Cái cách học tập dùng tâm để
quan sát tâm với sự cố gắng tích cực và
thực tiễn là một con đường nghiên cứu
khoa học những hiện tượng tâm linh. Những
nhà tu thiền Phật Giáo cao cấp là những chuyên viên
hiểu biết về tâm con người. Thực ra sự
hiểu biết và làm chủ những hiện tượng
tinh thần và cảm xúc là một trong những thiếu sót
lớn lao của Tây phương, Tây phương quá chú
trọng về việc t́m hiểu và điều khiển
những hiện tượng bên ngoài con người.
Phật Giáo, trái lại, là một môn khoa học thực
sự về nội tâm con người.
Một
thứ đạo đức về trách nhiệm toàn
cầu.
Phật Giáo đến với
người Tây phuơng không chỉ như là một môn
"khoa học nội tâm", nhưng cũng là một
nền đạo đức thực sự về trách
nhiệm cá nhân và tập thể. Chúng ta đụng tới
ở đây giới hạn lớn lao của thái
độ tây phương đối với hành
động về thế giới. Dập theo khái niệm
kinh thánh về sự thống trị hợp pháp của con
người đối với thế giới, Tây
phương lao vào, kể từ thế kỷ XVII, công tác
"prométhéenne" (Prométhée, thần văn minh của loài
người) làm chủ toàn thể thế giới. Cố
gắng này được tiếp nối bởi một
cuộc cách mạng kỹ thuật phi thường, đă
giúp chúng ta loại trừ những bệnh truyền
nhiễm, ngăn chặn những ḍng sông, chữa lành
những bệnh nguy hiểm chết người
trước kia, nói tóm lại, "nhân bản hóa" thế giới. Nhưng nó
cũng sản xuất ra bom nguyên tử, nạn phá
rừng, ảnh hưởng nhà kính, làm ô nhiễm nước,
tiêu diệt hàng ngh́n loại súc vật và cây cỏ, và
tạo ra những bệnh truyền nhiễm thực
phẩm, như bệnh "ḅ điên", một trong
số rất nhiều những hậu qủa tai hại,
hay đặt ra những vấn đề quan trọng,
tỉ dụ như cuộc cách mang "gien" (di
thể). Tiếp theo sau sự vui mừng của thế
kỷ XIX trước những tiến bộ về khoa
học, là sự lo lắng.
Đối diện với những
đe dọa nhiều vô số kể nó đè nặng
từ nay lên hành tinh – đây là lần đầu tiên trong
lịch sử loài người, con người có khả
năng tự hủy diệt -, những tiếng nói càng
ngày càng nhiều được cất lên ở Tây
phương, để kêu gọi một lương tâm
mới, đạo đức cá nhân và toàn cầu mới
về trách nhiệm. Edgar Morin nhắc nhở rằng trái
đất là con tàu độc nhất và tổ quốc
độc nhất của chúng ta, và ông kêu gọi một
thứ "tôn giáo mới" – theo ư nghĩa tái kết
hợp – "không thượng đế, mà ở đó
sự vắng bóng thượng đế làm cho bí mật
hiện hữu ở khắp nơi", "không mặc khải",
"không sự thật đầu tiên và sự thất
cuối cùng", "không thần thánh và không tương
lai rực rỡ, nhưng nó kết hợp chúng ta lại với
nhau", "không hứa hẹn, nhưng có gốc
rễ", "một tôn giáo bảo đảm, cứu
khổ, giái thoát, thân hữu", "tôn giáo này chấp
nhận bất định", "mở rộng tới
vực thẳm" và bao gồm một trách nhiệm
hợp lư: cứu hành tinh, văn minh hóa Trái đất, hoàn
thành sự thống nhất loài người và cứu văn
sự dị biệt".
Tiếp theo sau Hans Jonas, Paul Ricoeur
nhấn mạnh tới quan niệm trách nhiệm như là sứ mạng của
những thế hệ tương lai: "Sự kiện
mới là con người bây giờ trở nên nguy hiểm
cho con người; con người trở nên nguy hiểm
cho chính ḿnh khi gây nguy hiểm cho sự sống nuôi
dưỡng con người và thiên nhiên mà dưới bóng
thiên nhiên ấy, ngày xưa, con người xây dựng thành
phố của họ. Từ hậu quả quan trọng
của quan niệm sứ mạng được giao phó,
phát sinh ra ngay tức khắc sứ mạng thứ hai
như sau đây: nếu con người là một sinh
vật có thể chết dễ dàng, th́ phương châm
chính của luân lư trở thành hành động có chừng
mực, thận trọng, có thể nói là không hành
động".
Václav Havel, đến lượt ông ta,
nhắc lại trước quốc hội Mỹ là sự
"cứu văn thế giới
loài người không ở đâu khác hơn là trong trái tim con người, tư tưởng con
người, sự nhũn
nhặn của con người, trách nhiệm của con người. Không có
một cuộc cách mạng toàn cầu trong lănh vực lương tâm con
người, th́ không cái ǵ có thể thay đổi tích
cực, kể cả trong lănh vực liên quan tới
đời sống của con người, và bước
đi của thế giới tới thảm họa môi sinh,
xă hội, dân số hay văn hóa, không thể đảo
ngược".
(Václav Havel rappelle à son tour devant le Congrès
américain que la "sauvegarde de notre monde humain n’est nulle part
ailleurs que dans le coeur humain, la pensée humaine, l’humilité humaine, la
responsabilité humaine. Sans révolution globale dans la sphère de la conscience
humaine, rien ne peut changer positivement, même dans la sphère de l’existence
humaine, et la marche de notre monde vers la catastrophe écologique, sociale,
démographique ou culturelle, est irréversible).
Những đề tài này nhận
được tiếng vang dội đáng ngạc nhiên
trong Phật Giáo. Thông điệp của Đức
Phật, thật thế, nhấn mạnh tới sự liên
đới của tất cả các hiện tượng,
Ngài nhắc lại rằng cuộc cách mạng thật
sự là cách mạng
lương tâm, Ngài đề cao luân lư của một
thái độ đúng, kính trọng chính ḿnh, những
người khác và môi sinh (kính trọng mọi sinh vật),
Ngài nhấn mạnh tới sự từ bi, v.v. Lấy
nguồn cảm hứng từ triết học của
Đức Phật, và t́m cách đương đầu
với những vấn đề của thế giới,
Đức Đạt-lai Lạt-ma không ngừng đề
cao luân lư của trách nhiệm cá nhân và tập thể. Ngài
cũng nhắc lại trong tác phẩm mới đây, "sự quan trọng của chính
thế giới chúng ta có nghĩa là chúng ta không thể cho
phép chúng ta quên người khác. Chính v́ thế mà tôi tin
rằng, chúng ta cần phải trau dồi quan niệm mà tôi
gọi là "trách nhiệm toàn cầu" […]. Khi chúng ta
không biết tới kích thước toàn cầu của
những hành động của chúng ta và coi thường
hạnh phúc của người khác, th́ chắc chắn
rằng những quyền lợi của chúng ta có vẻ
như tách biệt khỏi những quyền lợi của
họ. Chúng ta không cảm thấy sự thống nhất
căn bản của gia đ́nh nhân loại". Với
khái nhiệm về trách nhiệm toàn cầu ấy, và
việc nhấn mạnh tới quan niệm từ bi, nhà
lănh đạo tinh thần Tây-tạng đă có thể gây xúc
động cho nhiều người Tây phương,
những người này ư thức được những
nguy hiểm cho một thế giới phức tạp
kỹ thuật hóa, hoàn toàn mất trật tự, họ tin
rằng chúng ta có nhu cầu phải xét lại lương
tâm cá nhân và tập thể.
Triết
học nội tâm và tinh thần thực tiễn giúp chúng ta
đem trở lại cho trái tim con người của
thời đại tân tiến thế tục, những
vấn đề ư nghĩa đời sống và sự
giải thoát, luân lư cá nhân và tập thể về hạnh
phúc, đạo đức về trách nhiệm toàn cầu,
Phật Giáo của Đức Đạt-lai Lạt-ma
được giới truyền thông phổ biến
mạnh mẽ, trở thành đối với nhiều người
Tây phương như là một thứ nhân bản hoàn toàn,
mà họ tin rằng nhân loại của thế kỷ XXI
sẽ rất cần đến.
(Philosophie immanente et spiritualité pragmatique
qui permettent de réintroduire au coeur de la modernité laique les questions du
sens et du salut, morale individuelle et collective du bonheur, éthique de la
responsabilité univer-selle, le bouddhisme fortement mediatisé du dalai-lama
apparait ainsi à nombre d’Occidentaux comme un huma-nisme complet dont ils sont
convaincus que l’humanité du XXIe siècle aura grand besoin).
Trần văn Kha
(Trích ra từ "Tôn Giáo
Đối Chiếu"