KINH PHÁP ẤN
CHÚ THÍCH: Kinh
Pháp Ấn ( Phật Thuyết Pháp Ấn
Kinh ) thuộc về Kinh bộ A Hàm, là kinh số 104 của
Đại Tạng Tân Tu. Bản Hán văn của kinh
này do Thi Hộ đời Tống
dịch từ nguyên bản Phạn ngữ ( Sanskrit ), được
Nhất Hạnh dịch ra tiếng Việt và do Nhà Lá
Bối xuất bản ( không thấy ghi năm xuất
bản ).
(Tôi nghe như
vầy: )
Hồi
đó Phật đang ở nước Xá Vệ với
đầy đủ quý vị trong cộng đồng
khất sĩ.
Một hôm Ngài nói với đại chúng: "
Có pháp ấn mầu nhiệm, quý vị có biết
không? Hôm nay tôi muốn phân tích và diễn
giải pháp ấn này cho quý vị nghe. Quý
vị hãy đem nhận thức thanh tịnh ra để
nghe cho kỹ, tiếp nhận cho thấu đáo, khéo léo
xử dụng tâm ý để ghi nhớ mà hành trì.
"
Các vị khất
sĩ bạch Phật: " Hay quá, thưa Đức
Thế Tôn! Xin người chỉ dạy cho, chúng tôi
muốn được nghe. "
Phật
dạy:
"
Tự tính của
Không là không nằm trên bình diện có không, không nằm trong
khuôn khổ các vọng tưởng, không có tướng
sinh, không có tướng diệt, và vượt thoát mọi
tri kiến. Tại sao thế? Vì tự
tính của Không không có vị trí trong không gian, không có hình
tướng, không thể khái niệm được,
chưa bao giờ từng sinh khởi, tri kiến không
nắm bắt được, và thoát ly mọi sự
nắm bắt. Vì thoát ly được mọi sự
nắm bắt nên nó bao hàm được tất cả các pháp và an trú
nơi cái thấy bình đẳng không phân biệt.
Cái
thấy ấy là cái thấy chân chính và xác thực. Quý vị khất sĩ! Quý vị nên biết rằng không những tự
tính của Không như thế mà tất cả các pháp
cũng đều như thế. Đó
gọi là pháp ấn.
"
Quý vị khất
sĩ! Pháp ấn này chính là ba cánh cửa đi vào giải
thoát, là giáo lý căn bản của chư Phật, là con
mắt của chư Phật, là chỗ đi về
của chư Phật. Vì vậy quý vị nên nghe cho kỹ,
tiếp nhận cho thấu đáo, để ghi nhớ mà
tư duy và quán chiếu ngay trong lòng thực tại.
"
Quý vị khất
sĩ! Người tu hành nên tìm nơi tĩnh
mịch như vào rừng, ngồi dưới gốc cây
để thực tập quán chiếu về tự thân
thực tại. Phải thấy mọi hình sắc là
khổ, là không, và là vô thường để thoát ly cho
được sự bám víu vào hình sắc và trở về an trú trong cái thấy bình đẳng không phân
biệt đối với hình sắc. Đối với
cảm giác, tri giác, tâm tư và nhận thức cũng
thế: người ấy nên quán chiếu rằng chúng là
khổ, là không, và là vô thường để có thể thoát
ly cho được cái thấy có tính cách sai lạc về
cảm giác, tri giác, tâm tư và nhận thức để
đạt tới cái thấy bình đẳng không phân
biệt về chúng. Này quý vị khất
sĩ, các uẩn vốn là không, vốn được sinh
khởi từ tâm, khi tâm không còn hiện hành thì uẩn
cũng không còn tác dụng. Thấy
biết được như thế tức là đạt
được giải thoát chân chính. Giải
thoát chân chính rồi thì giải thoát được mọi
tri kiến. Phép quán sát này gọi là KHÔNG, cánh cửa
giải thoát thứ nhất.
" Lại
nữa, an trú trong định mà quán sát các đối
tượng thì hành giả thấy các đối
tượng hình sắc đều tan biến hết và
người ấy thoát ly được tính cách hư
ảo của tri giác về hình sắc. Các đối
tượng khác là thanh, hương, vị, xúc và pháp
cũng đều tan biến hết và hành giả thoát ly
được tính cách hư ảo của mọi tri giác
về thanh, hương, vị, xúc và pháp. Phép quán sát này
gọi là VÔ TƯỚNG, cửa giải thoát thứ hai. Vào được cánh cửa giải thoát này
rồi thì tri kiến sẽ được thanh tịnh, và
vì tri kiến đã thanh tịnh nên hành giả diệt
trừ được hết các phiền não tham, sân, si.
Tham, sân và si đã tận diệt thì hành giả an trú được trong cái thấy bình
đẳng. An trú được trong cái
thấy này thì lìa được những cái thấy về
TA và về CỦA TA, nghĩa là chấm dứt
được mọi cái thấy sai lầm. Cái thấy này
không còn cơ hội và căn cứ để sinh khởi
nữa.
Lại
nữa, các vị khất sĩ! Thoát ly
được cái thấy về ta rồi thì không còn cho
rằng những sự vật mà ta thấy, nghe, cảm và
biết là những sự vật có thật ngoài nhận
thức nữa. Vì sao thế? Vì
nhận thức cũng chính là do nhân duyên mà phát sinh. Nhận thức và các nhân duyên làm phát khởi ra
nhận thức đều biến chuyển vô
thường, mà vì thức vô thường cho nên ta cũng
không nắm bắt được. Thức
uẩn đã không như bất cứ hiện tượng
nào khác thì còn có gì cần được tạo tác nữa
đâu? Phép quán sát này được gọi là VÔ TÁC,
cửa giải thoát thứ ba. Vào
được cửa giải thoát này rồi thì thấy
được chân tướng các pháp một cách triệt
để, không còn bị kẹt vào một pháp nào khác
nữa và thể nghiệm được tính cách tịch
diệt của các pháp."
Phật
bảo quý vị khất sĩ: " Pháp
Ấn mầu nhiệm là như thế. Đó
là ba cánh cử đi vào giải thoát. Quý vị
khất sĩ, nếu quý vị tu học theo
pháp ấn này thì chắc chắn là sẽ đạt
được tri kiến thanh tịnh."
Toàn thể các
vị khất sĩ nghe pháp này đều tỏ ra sung
sướng. Họ làm lễ Phật sau khi đã
tiếp nhận giáo pháp này để hành trì. "
***