Người như thế nào được gọi là Phật tử?

Toàn Không

 

    Phật tử là con Phật, người Phật tử tôn kính đức Phật làm đạo Sư của ḿnh. Có hai loại Phật tử: Phật tử xuất gia và Phật tử tại gia. Phật tử xuất gia xa rời gia đ́nh, sống không gia đ́nh trong chùa am, tịnh thất v.v… Phật tử xuất gia được thể hiện bề ngoài là cạo râu tóc, mặc quần áo của người tu để học hỏi Phật pháp, tu hành và dẫn dắt chúng sinh trên đường học hỏi và t́m kiếm chân lư. Phật tử tại gia là những người sống tại nhà, công nhận Phật giáo là Tôn giáo của ḿnh. Trong bài này chúng ta chỉ bàn về loại Phật tử tại gia, và người như thế nào được gọi là một Phật tử tại gia?

     Tuy nói là Phật tử tại gia, nhưng nếu phân tích ra chúng ta thấy có nhiều loại. Có người cả đời chẳng bao giờ tới chùa, có người chỉ tới chùa khi có lễ Cầu Siêu cho bạn thân hay bà con chết, có người lâu lắm mới tới chùa một lần, có người chỉ tới chùa trong các dịp lễ lớn như lễ Phật Đản, lễ Vu Lan, lại có người tới chùa hàng tháng hoặc hàng tuần v.v...

     Đạo Phật không câu chấp về sự có mặt tại chùa của người Phật tử tại gia, đạo Phật thể hiện sự tự do bằng hai chữ “tùy tâm”, tùy hoàn cảnh, tùy duyên của mỗi người, không có sự g̣ bó bắt buộc. Người Phật tử có quyền đến chùa mà ḿnh ưa, nghĩa là có thể tùy hỉ tới bất cứ chùa nào không kể xa gần. Đứng về phương diện tổ chức, chúng ta thấy Phật giáo qúa lỏng lẻo, ai tới chùa nhiều th́ tốt, c̣n ai không tới chùa cũng được, không có chuyện nhắc nhở bằng cách này hay cách khác v.v…

     Cũng v́ những lẽ đó, mà tŕnh độ hiểu biết giáo lư về Phật giáo của người Phật tử rất thiếu sót và không đồng đều. Không thể nào so sánh sự hiểu biết của người Phật tử nói chung về triết thuyết Phật giáo với sự hiểu biết của tín đồ Tôn giáo khác về giáo điều Tôn giáo của họ được, nghĩa là người Phật tử không hiểu biết ǵ nhiều về Tôn giáo của ḿnh trong khi tín đồ Tôn giáo khác họ hiểu giáo điều Tôn giáo của họ rất tường tận. Tuy nhiên, cũng có một số Phật tử nghiên cứu thâm sâu giáo thuyết Phật giáo của ḿnh chứ chẳng phải tất cả mọi Phật tử đều có tŕnh độ yếu kém về Phật pháp.

     Sở dĩ các Tôn giáo khác họ đào tạo được tín đồ của họ là v́ tổ chức chặt chẽ, hàng tuần đều phải có mặt tại cơ sở Tôn giáo của họ, nếu người nào quên th́ được nhắc nhở bằng nhiều cách khác nhau, nhất là các thế hệ trẻ th́ lại càng được để ư chăm sóc kỹ lưỡng.

     Về Kinh sách, các đạo khác thường chỉ có một hai quyển Kinh chính và một số sách giải thích Kinh nên tương đối không phức tạp, người học dễ ghi nhớ, trong khi Phật giáo có 12 bộ Kinh, Luật, Luận và biết bao nhiêu sách, lại cao siêu khó hiểu, nhất là phần lớn các Kinh được dịch từ chữ Hán sang chữ quốc ngữ, mà chữ quốc ngữ nhiều khi không có những từ tương tự thích hợp, không có đủ chữ để diễn tả ư Kinh nên dịch giả phải dùng chữ Hán Việt. Người Phật tử phần lớn không được học chữ Nho, Hán tự, nên khi đọc Kinh sách gặp các chữ ấy th́ không hiểu, lúng túng, phát nhức đầu, chán nản, nhiều người bỏ luôn không đọc nữa.

     Tại các chùa, thường ban đầu chùa nào cũng có thuyết giảng giáo lư mỗi tuần, mới đầu cũng có nhiều người tới nghe, nhưng v́ bận công ăn việc làm nên khi đến khi không, thành ra sự hiểu biết chỉ lơm bơm một vài vấn đề. Sau một thời gian, số Phật tử đến nghe giảng càng ngày càng thưa dần, nên cuối cùng ngưng luôn, chỉ c̣n có thuyết giảng trong các dịp có đại lễ mà thôi, nên kết qủa chẳng được là bao.

     Như trên đă nói, Kinh sách của Phật giáo rất nhiều so với các Tôn giáo khác, người nghiên cứu nhiều th́ hết lời ca ngợi, ngay cả những người không theo đạo Phật nhưng có nghiên cứu t́m hiểu Kinh sách của đạo Phật một cách khách quan đều khen ngợi đạo Phật là đạo trí tuệ, như một số các nhà trí thức, khoa học, Bác học Tây phương đă từng ca tụng đạo Phật mà ai cũng đă biết. Vậy mà nhiều người Phật tử chỉ hiểu Tôn giáo của ḿnh một cách đại khái, có khi nói những điều ngược lại đường lối của đạo Phật mà chẳng biết chẳng hay.

     Chúng ta thấy rơ ràng rằng một số người Phật tử không hiểu nhiều về đạo của ḿnh, nên cần tự chấn chỉnh bằng cách t́m đọc Kinh sách, hoặc năng tới chùa, xin được nghe giảng giáo lư để trám cái lỗ trống thiếu hiểu biết Giáo lư của Phật từ bao lâu nay.

     Đến đây, chúng ta thử phân tích thế nào mới là một Phật tử? Đúng ra, chỉ gọi là Phật tử khi nào đă quy y Tam Bảo. Vậy những ai từ hồi c̣n nhỏ đến giờ chưa hề quy y, mà tưởng rằng không cần quy y vẫn đương nhiên là Phật tử, th́ nên đến một chùa nào mà ḿnh thấy rằng vị Thầy ở chùa ấy có đầy đủ đức hạnh để xin quy y Tam Bảo.

Quy y Tam Bảo

Tại sao chúng ta cần quy y Tam Bảo?

     Thế giới này, con người sống trong  dục vọng mê mờ, nước mắt con người trong khổ đau nhiều hơn nước biển cả, chúng ta muốn thoát khỏi chỗ bùn nhơ, nhưng chúng ta không thể tự thấy được con đường sáng sủa để thoát khỏi, vậy ai là người có đủ phương pháp thần diệu và ḷng vị tha để chỉ đường cho chúng ta đi? Đấng cao cả từ bi có đầy đủ năng lực ấy là Đức Phật, chỉ có giáo pháp của Ngài mới cứu được con người ra khỏi vô thường đau khổ mà thôi. Vậy th́ c̣n ngần ngại ǵ mà chẳng chịu quy y Tam Bảo?

Quy y là ǵ?

     Quy có nghĩa là trở về, y có nghĩa là nương tựa, được che chở. Ví như người con bỏ nhà đi hoang, bây giờ trở về nương tựa cha mẹ để được che chở. Quy y c̣n có nghĩa là phục tùng kính vâng.

Tam Bảo là ǵ?

     Tam Bảo là ba ngôi báu Phật, Pháp, Tăng.

     Vàng bạc châu báu dù qúy giá cũng không thể cứu con người khỏi khổ của sống già bệnh chết, c̣n Phật Pháp Tăng có đủ năng lực dẫn dắt con người ra khỏi sinh tử luân hồi, bởi vậy mới nói Phật Pháp Tăng là Tam Bảo, ba ngôi qúy báu là vậy.

- Phật là ǵ? Phật do chữ Phạn Buddha phiên âm ra, có nhiều người gọi là Bụt, người Tàu dịch là Giác giả, nghĩa là bậc sáng suốt hoàn toàn giác ngộ. Phật là người thấu suốt tất cả hai phần “Tính” (Tánh, thể tánh) và “Tướng”(h́nh dạng) của hết thảy vạn vật trong vũ trụ.

- Pháp là ǵ? Do chữ Phạn Darma dịch ra, là phương pháp đối xử, tu hành mà đức Phật đă nói ra để diệt trừ mê muội, khổ đau, và chứng qủa giải thoát khỏi sinh tử luân hồi. Ba tạng Kinh điển là Luật, Kinh, Luận của Phật giáo gọi chung là Pháp.

- Tăng là ǵ? Tăng hay Tăng già do chữ Phạn Sanga phiên âm ra, người Tàu dịch là ḥa hợp chúng, một đoàn thể tu hành từ bốn người trở lên sống chung ḥa thuận cùng giữ giới luật của Phật để tu hành và hướng dẫn chúng sinh trên đường học đạo.

Tại sao phải quy y Phật?

     Đức Phật là đấng hoàn toàn sáng suốt, hiểu biết hết thảy vạn vật vũ trụ, từ bi vô lượng, phước huệ vô biên, đức hạnh viên măn. Ngài đă giác ngộ hoàn toàn, có kinh nghiệm bản thân giải thoát ra khỏi ṿng sinh tử luân hồi, nên Ngài là vị dẫn đường đúng nhất vĩ đại nhất, trên thế gian này không có người nào hơn Ngài. Do đó chúng ta quy y Phật. Quy y Phật có nghĩa là quy y Phật ba đời (qúa khứ, hiện tại, và tương lai), song lấy một vị Phật đă xuất thế để chứng minh.

Tại sao lại quy y Pháp?

     Chỉ có phương pháp của đức Phật nói ra từ sự thấy biết và kinh nghiệm của bản thân mới thật sự chân thật, thật sự đầy đủ công năng đưa con người ra khỏi bể khổ, trầm luân, đến bờ giải thoát cũng như Ngài vậy. Giáo pháp của Ngài chân thật bất hư, có một không hai trên thế gian này, nếu ai thực hành theo đúng đều được kết qủa mỹ măn, và đă có biết bao người đă tới đích sau khi áp dụng thực hành theo giáo pháp của Ngài. Đó là bằng chứng hùng hồn đích thực cho người Phật tử chúng ta suy gẫm, và đó là lư do tại sao chúng ta quy y Pháp.

Tại sao lại quy y Tăng?

     Tăng là người hy sinh gia đ́nh tiền của danh vọng thế gian để học hỏi giáo lư của Phật và tu hành, Tăng cũng là những người t́nh nguyện thay Phật để hướng dẫn chúng sanh về giáo lư và thực hành những điều lợi ích trên bước đường t́m chân lư giải thoát. Đó là lư do tại sao chúng ta quy y Tăng.

Tam Bảo được chia ra như thế nào? Tam Bảo được chia ra làm ba bậc:

1/- Đồng thể Tam Bảo:

- Đồng thể Phật bảo: Tất cả chúng sinh cùng có thể tánh sáng suốt như chư Phật.

- Đồng thể Pháp bảo: Tất cả chúng sinh cùng có đức tính b́nh đẳng từ bi như chư Phật.

- Đồng thể Tăng bảo:  Tất cả chúng sinh cùng có thể tánh thanh tịnh như chư Phật.

2/- Xuất thế Tam Bảo:

- Xuất thế Phật bảo: Các đức Phật mười phương đều ra khỏi sự ràng buộc của thế gian và đều tự tại vô ngại.

- Xuất thế Pháp bảo: Tất cả chính Pháp của Phật đều đưa chúng sanh thoát khỏi ràng buộc của thế gian.

- Xuất thế Tăng bảo: Tất cả các vị Thánh Tăng (đă đạt đạo) đều đă ra ngoài ràng buộc của thế gian và đều tự tại vô ngại.

3/- Thế gian trụ tŕ Tam Bảo:

- Thế gian trụ tŕ Phật bảo: Là h́nh ảnh, tượng, xá lợi của Phật.

- Thế gian trụ tŕ Pháp bảo: Là các Kinh Luật, Luận của Phật.

- Thế gian trụ tŕ Tăng bảo: Là hàng Tăng Ni tu hành chân chính, nghiêm tŕ giới luật đầy đủ.

Có mấy loại quy y? Quy y được chia làm hai loại:

1/-Quy y bên ngoài: Cũng gọi là Sự (sự việc làm), Quy y rồi về bề ngoài phải làm những ǵ?

- Đối với Phật: Cung kính Phật là người đă v́ chúng sanh mà giảng giải giáo lư trong suốt cuộc đời của Ngài, lễ bái Phật với tâm tôn kính, nguyện noi theo bước chân của Ngài trên bước đường giải thoát.

- Đối với Pháp: Nguyện học đọc tụng giáo lư cao siêu của Phật và áp dụng triệt để.

- Đối với Tăng: Thực hành quy y Tăng Ni, vâng nghe những lời chỉ bảo chân chính, hễ thấy người tu hành chân chính th́ kính nể qúy trọng, xem như vị đó là đại diện của Phật.

2/-Quy y bên trong: Cũng gọi là Lư (nghĩa lư),  nếu chỉ quy y bên ngoài (Sự) mà quên không quy y bên trong (Lư), th́ chúng ta chưa thực hành đúng với nghĩa Tam Quy. Bên trong chúng ta cũng có đủ Tam Bảo, chúng ta cần thực hành Tam Tự Quy Y: Tự quy y Phật, tự quy y Pháp, tự quy y Tăng. Nói vậy, chứ chúng ta không nên kiêu ngạo ngă mạn về cái bản ngă đầy đủ các đức tánh của ḿnh.

- Tự quy y Phật: Là quay về với bản tính chân như đầy đủ công đức, trở về với Phật tánh tràn đầy trí tuệ sáng suốt của ḿnh. Quy y Pháp thân (Phật tánh) chứ không quy y sắc thân (thân ḿnh), tuy nhiên sắc thân là chỗ nương tựa của Pháp thân. Phật dạy mỗi người đều có Phật tánh, v́ mê muội nên bị vọng tưởng che lấp, nhưng Phật tánh vẫn c̣n đó chứ không bao giờ mất, khi hết vô minh th́ Phật tánh hiện ra.

- Tự quy y Pháp: Là quy y cái vô dục, vâng làm theo Pháp tánh quang minh chính đại của ḿnh như tŕ giới nhẫn nhục, từ bi hỷ xả, b́nh đẳng trí tuệ v.v…, là tự quy y Pháp.

- Tự quy y Tăng: Hướng về công đức qủa vi Thánh, tánh thanh tịnh của ḿnh xưa nay vẫn có, cũng như Tăng già hiện thân thanh tịnh ḥa hợp bên ngoài, có ḥa hợp mới thanh tịnh được, nên tự quy y  ḥa hợp thanh tịnh là vậy.

Nghi thức quy y:

     Phải được thực hiện do một vị Tăng tại chùa, chư Tăng hướng dẫn, trong đó trước tiên là phải sửa soạn bằng cách tắm rửa thơm tho, quần áo sạch sẽ cho thân thể bên ngoài, không tham sân buồn phiền bên trong. Khi quy y, mỗi người được vị Tăng ban cho một tên hiệu gọi là Pháp danh, phần chính của quy y là phát nguyện như sau:

- Đệ tử suốt đời quy y Phật,

- Đệ tử suốt đời quy y Pháp,

- Đệ tử suốt đời quy y Tăng.

      Sau khi phát nguyện, người Phật tử đă gieo hạt giống Bồ Đề và sẽ thoát khỏi ba cơi ác là Địa Ngục, Ngạ Qủy (ma qủy), Súc Sinh, v́ thế người quy y nói:

- Đệ tử quy y Phật rồi khỏi đọa Địa Ngục,

- Đệ tử quy y Pháp rồi khỏi đọa Ngạ Qủy,

- Đệ tử quy y Tăng rồi khỏi đọa Súc Sinh.

     Sau chót, người quy y tự nguyện nói:

- Đệ tử quy y Phật rồi, nguyện trọn đời không quy y Trời, Thần, Qủy, Vật,

- Đệ tử quy y Pháp rồi, nguyện trọn đời không quy y ngoại đạo tà giáo,

- Đệ tử quy y Tăng rồi, nguyện trọn đời không quy y ác nhân ác đảng.

Lợi ích của việc quy y: Có hai lợi ích của việc quy y:

1/- Không đi lạc đường: Mọi người đều ngụp lặn trong biển khổ sinh tử triền miên, nếu không có sự hướng dẫn sáng suốt th́ chúng ta c̣n quay cuồng măi măi trong luân hồi không có ngày ra khỏi. Cái ánh sáng ấy là đức Phật, phương tiện là Pháp (Kinh sách), và người hướng dẫn là chư Tăng. Có những sự qúy báu như thế mà chúng ta không chịu nắm lấy, chẳng khác người sắp chết đuối thấy cái bè trôi qua lại không chịu bám vào.

2/- Dễ giữ được lời hứa: Có người nói:”Kính Phật trọng Pháp tin Tăng là đủ, cần ǵ phải quy y nữa”. Sự thực, về phương diện tâm lư, một lời nguyện trước sự chứng tri của Phật, Tăng, trong khung cảnh quy y làm cho người quy y khó mà quên được vậy, nên cần phải quy y.

     Quy y c̣n đi đôi với Ngũ giới, gọi là Tam Quy Ngũ Giới. Nếu một Phật tử đă quy y rồi mà không biết Ngũ giới th́ thiếu sót vô cùng và chưa thật sự là người Phật tử. Nói đúng hơn, cũng như một người đă bước chân vào cổng chùa nhưng đứng đó mà không tiến bước vào chùa. Chúng ta sẽ phân tích xem thế nào là Ngũ Giới vào tuần sau.

Toàn Không