Tính "Không"

 

Liên Tử

 

Trong triết lư đạo Phật có ư niệm cho rằng vạn vật đều có tính "KHÔNG". Vậy th́ tính "không" là tính ǵ? Nói đơn giản, ta có thể trả lời rằng tính "không" chính là tính Tương-đối. Tương đối có nghĩa là khi cần xem xét một sự vật hay sự việc, ta bắt buộc phải dựa vào một sự vật hay sự việc khác để làm chuẩn. Như vậy, tính "KHÔNG" trong đạo Phật có thể được giải nghĩa là: mọi sự vật hay sự việc đều KHÔNG tự nó có bản chất, mà đều phải dựa vào các sự vật hay sự việc khác để làm tiêu chuẩn.


Ta có thể đưa ra vài ví dụ về tính "không", tức là tính tương đối của mọi vật qua một số hoàn cảnh chung quanh ta như sau:


Ví dụ 1: Màu đỏ của Hoa Hồng
Khi nh́n thấy một cánh hoa hồng màu đỏ, ta thường cho rằng màu đỏ của hoa hồng là một sự thật vô cùng hiển nhiên, không ai có thể chối căi.

Thật ra cánh hoa hồng tự nó không có màu sắc. Nó chỉ phản chiếu các tia sáng chạm vào nó mà thôi. Một số các tia phản chiếu đó đập vào vơng mạc trong mắt của ta. Sở dĩ con người nh́n thấy màu đỏ, hay các màu vàng, xanh, tím, v.v… là bởi v́ vơng mạc con người cảm ứng được với những bước sóng ánh=2 0sáng dài 380 đến 700 nanô-mét. Những màu sắc nào nằm ngoài bước sóng trên, con người sẽ không nh́n thấy, mặc dù chúng vẫn có đó(như tia cực tím hay tia hồng ngoại chẳng hạn).

Nhiều sinh vật có tế bào thị giác chỉ cảm ứng được với mức độ sáng tối. Thế giới hiện ra trước mắt chúng cũng giống như khi ta xem ti-vi trắng đen. đối với các loài này, hoa hồng chỉ là màu xám.

Có những loài chỉ nh́n đời bằng thị giác dựa trên nhiệt độ(thermal vision) chứ không phải dựa trên ánh sáng. ối với các loài đó, sẽ không có quan niệm ǵ về màu sắc cả.

Có những loài khác nh́n đời bằng siêu âm, bằng sóng điện từ, hay bằng những bước sóng khác trên quang phổ, v.v… đối với các loài đó, h́nh ảnh về cánh hoa hồng cũng sẽ hoàn toàn khác xa với cách nh́n của con người.

Như vậy, màu đỏ của hoa hồng chỉ là một sự thật tương đối, dựa trên tiêu chuẩn thị giác của loài người mà thôi. Ta gọi đó là tính "không" của màu sắc.

Ví dụ 2: Tiếng của Sự Yên Lặng
Khi ngồi trong một căn pḥng hoàn toàn yên lặng, ta tưởng rằng chung quanh ta không có một âm thanh nào cả. Tuy nhiên, một con dơi hay một con chó vẫn có thể nghe được những âm thanh với tần số thật cao hay thật thấp mà loài người không thể nghe được.


Trong căn pḥng yên lặng đó, vẫn có thể có vô số làn sóng radio đang bủa vây quanh ta. Các máy radio có thể bắt được, nhưng tai ta không bắt được.


Như vậy, sự yên lặng mà chúng ta tưởng là thật đó chỉ là tương đối, dựa trên tiêu chuẩn thính giác của loài người. Trong sự yên lặng "giả" đó vẫn có thể có vô số âm thanh khác nhưng ta không biết chỉ v́ hai tai ta không nghe được chúng mà thôi.

Ngược lại, trong một căn pḥng đông người tṛ chuyện, ta sẽ cho là pḥng có nhiều tiếng ồn ào. Nhưng nếu một loài nào đó có thính giác chỉ cảm ứng được với sóng âm thanh trên 20 KHz, th́ căn pḥng đối với chúng là yên lặng. Đó là tính "không" của âm thanh.


Ví dụ 3: Di động và đứng YC3n
Khi ta đứng yên trên mặt đất, ta tưởng rằng ta đang đứng yên, hoàn toàn không di động. Ta đâu biết rằng, ngay chính lúc đó, ta đang di động với một vận tốc nhanh khủng khiếp. Lư do là v́ ta đang đứng trên mặt trái đất, và trái đất đang xoay quanh trục với vận tốc 1600 cây số/giờ.

Ở khu vui chơi Disneyland có tṛ chơi du hành không gian. Khán giả ngồi vào một chiếc phi thuyền, có cảm giác rơ ràng rằng phi thuyền đang cất cánh bay vào không gian. Khi phi thuyền lượn qua lượn lại thật nhanh để né tránh các vẫn thạch, ta thấy lên ruột lên gan, thấy thân ḿnh nghiêng qua nghiêng lại như thật. Nhưng trên thực tế, phi thuyền vẫn đứng yên tại chổ, chỉ lắc và dùng h́nh ảnh qua khung cửa để đánh lừa giác quan của khán giả mà thôi.

Ở bất cứ nơi nào trong vũ trụ này, khi cần xác định sự di động hay đứng yên, ta đều phải dựa vào các vật khác để làm chuẩn, như dựa vào mặt đất, hay vào một điểm đă định trước, v.v… Nếu không có ǵ để làm chuẩn ta sẽ không thể biết được rằng ta đang di động hay đứng yên.

Như vậy, sự di động hay đứng yên đều chỉ là tương đối. đây là một trong những nguyên lư động học căn bản của môn vật lư mà các học sinh thường được học từ trung học. đó chính là tính "không" của sự di chuyển và đứng yên.

Ví Dụ 4: Thép Cứng
Khi cầm một thỏi thép cứng trên tay, ta thấy rơ ràng rằng thỏi thép đó là một khối cứng rắn, chắc đặc, và "có thật". Tuy nhiên, nếu dùng kính hiển-vi cực mạnh nh́n vào thỏi thép đó, ta sẽ thấy thỏi thép ấy là một khoảng không với các nguyên tử lơ lửng trong đó. Nh́n sâu vào các nguyên tử, ta sẽ thấy chúng cũng là khoảng không, với một hạt nhân ở giữa và các hạt âm điện(electron) bay ṿng ṿng chung quanh.

=0 A


Nh́n sâu vào các hạt nhân, ta sẽ thấy chúng cũng là khoảng không, với những hạt c̣n nhỏ hơn nữa lơ lững trong đó. Càng đi sâu vào, ta càng thấy cái tưởng đâu là hạt, cũng chỉ là khoảng không. Nhưng khoảng không đó có năng lượng. Chính nguồn năng lượng đó đă làm cho ta có ảo giác về sự cứng chắc của thép.

Nhà bác học Albert Einstein đă dùng phương tŕnh nổi tiếng E = mc2 để diễn tả rằng cái mà ta tưởng là vật chất "có thật" thực ra chỉ là khoảng không có năng lượng.


Như vậy, ư niệm của ta cho rằng thỏi thép cứng rắn, chắc đặc chỉ là tương đối, dựa trên sự so sánh giữa thép với những vật khác trong đời sống của chúng ta như đất, nước, cây cỏ, da thịt, v.v… đó chính là tính "không" của vật chất.

Ví Dụ 5: Thiện và Ác
Quan niệm về điều thiện và điều ác cũng đều chỉ là tương đối. Không có một sự việc ǵ tự nó là thiện hay tự nó là ác. Khi cần đánh giá một hành động là thiện hay ác, con người luôn phải dựa và một số tiêu chuẩn đă được định sẳn, thường là bởi những truyền th ng văn hóa, xă hội. Chẳng hạn như khi hỏi "bố thí" là thiện hay ác, ta thấy rơ ràng rằng thiện hay ác đều tùy thuộc vào hoàn cảnh. Bố thí cho anh ghiền để anh ta lấy tiền mua x́-ke, ma-túy có phải là thiện hay không? C̣n bố thí tiền bạc cho anh nhà giàu nức đố đổ vách có phải là thiện hay không? Tương tự, khi nói về tính thiện ác của việc giết chóc cũng vậy: Con cọp giết con nai để ăn thịt là thiện hay ác? Giết một người để cứu ngàn người là thiện hay ác? Một quân nhân dùng phát súng ân huệ bắn chết đồng đội đang hấp hối trong đau đớn cùng cực v́ bị cháy phỏng toàn thân, đó là thiện hay ác? Giết người v́ tuân lệnh Thượng-đế là thiện hay ác? Giết người trong lúc ta đang mộng du có là ác hay không?

Ngày xưa có thầy Mạnh Tử và Tuân Tử, một người cho rằng "con người sinh ra vốn có bản tính thiện" c̣n thầy kia cho rằng "con người sinh ra vốn có bản tính ác". đa số quần chúng xưa nay xem ra thích quan niệm "con người có bản tính thiện" của thầy Mạnh Tử v́ nó có tính khích lệ, tích cực, lạc quan.


Thật ra, con người sinh ra chẳng có bản tính ǵ cả, không thiện mà cũng chẳng ác. Thiện ác đều là do các tiêu chuẩn của xă hội phán xét mà thôi. Mà đă là tiêu chuẩn do xă hội đặt ra th́ chưa chắc là lúc nào cũng sẽ giống n hau. Bởi vậy cho nên lịch sử mới có chuyện hai thầy Mạnh Tử và Tuân Tử bất đồng với nhau về bản chất con người. Đó chính là tính "không" của thiện và ác.

Ví Dụ 6: Sự Thật
Nhân gian thường cho rằng sự thật chỉ có một. Tuy nhiên, sự thật cũng mang tính tương đối, tùy theo góc độ mà người ta nh́n vào vấn đề.


Như trong ví dụ 1 về màu đỏ của hoa hồng, người cho rằng hoa hồng màu đỏ cũng nói đúng sự thật, mà người nói rằng hoa hồng không có màu cũng nói đúng sự thật.

Trong ví dụ 2 về sự yên lặng, người cho rằng căn pḥng hoàn toàn yên lặng cũng nói đúng sự thật, mà người nói rằng căn pḥng có nhiều âm thanh cũng nói đúng sự thật.

Trong ví dụ 3 về sự di động, người cho rằng ḿnh đang đứng yên cũng nói đúng sự thật, mà người nói rằng ḿnh đang di động thật nhanh cũng nói đúng sự thật.

Trong ví dụ 4 về thỏi thép, người cho rằn g thỏi thép chắc đặc cũng nói đúng sự thật, mà người nói rằng thỏi thép chỉ là khoảng không cũng nói đúng sự thật.

Trong một số phiên toà ở Mỹ, khi luật sư lên chất vấn đối phương thường đặt câu hỏi và chỉ cho trả lời "yes" hay là "no" mà thôi. Trong nhiều trường hợp, người bị chất vấn tức đến phát khóc v́ câu trả lời đúng nhất phải là "cả yes lẫn no" hay có khi là "chẳng yes mà cũng chẳng no". Làm sao trả lời luật sư cho đúng "sự thật" bây giờ?

Đó là chưa kể có những sự việc không thể hoàn toàn diển tả bằng ngôn ngữ hay suy nghĩ, chẳng hạn như t́nh yêu, hạnh phúc, Niết bàn. Đó chính là tính "không" của sự thật.


Ví Dụ 7: Phật Pháp và Tất Cả các Pháp
Đối với đạo Phật, ngay cả Phật Pháp và tất cả các pháp môn của đạo Phật, hay cả các tôn giáo khác cũng đều chỉ là tương đối.

V́ có khổ nên mới có Phật Pháp. Nếu không có khổ, th́ không có Phật Pháp. Phật Pháp chẳng tự nó tồn tại.


V́ chúng sinh có nhiều cá tính, tŕnh độ khác nhau, nên mới có nhiều pháp môn hay tôn giáo khác nhau để đáp ứng với từng chúng sinh. Nếu quần chúng không khác biệt, th́ sẽ chẳng có các pháp môn. Nếu không có nhu cầu tâm linh, th́ sẽ chẳng có tôn giáo. Các pháp môn và tôn giáo đều không tự nó hiện hữu.
Đó chính là tính "không" của tất cả các pháp.

Kết:
Một số quí vị có thể sẽ đặt vấn đề rằng: "Quan niệm về tính KHÔNG trong đạo Phật quả là sâu sắc và khoa học. Nhưng liệu cái quan niệm đó có giúp ích ǵ được cho tôi hay cho xă hội hay không?"


Câu trả lời sẽ là: khi hiểu về tính "không", hiểu về sự tương đối của vạn vật, ta có thể sẽ bớt cực đoan, sẽ bớt bám víu, tin tưởng một cách cố chấp vào những thứ ḿnh cứ tưởng đâu là tuyệt đối.


Khi không bị đánh lừa bởi những cái tưởng đâu là tuyệt đối, ta đă bớt "SI".
Khi không hùng hổ, tức giận cố chấp những cái tưởng đâu là tuyệt đối, ta đă bớt "SÂN".
Khi không tham lam bảo vệ hay luyến tiếc những cái tưởng đâu là tuyệt đối, ta đă bớt "THAM".
Bớt tham, sân, si trong đời sống tức là bớt khổ cho ḿnh và cho người.