VÀI SUY NGHĨ
VỀ PHẬT GIÁO NGÀY NAY
GSTS. Tâm Đàn
Triết
học Đông phương nói chung và triết học
Phật Giáo nói riêng quan niệm rằng biến động
là đặc trưng của sự vật, và lực gây nên
sự biến động đó không phải là ngoại
lực như triết học cổ điển Hy Lạp
quan niệm, trái lại, là nội lực thuộc vào
bản chất của sự vật. Khoa học ngày nay
đă chứng minh rằng vạn vật luôn luôn năng
động. Hơn thế nữa, vạn vật có tính
tự tổ chức, sáng tạo và tự sinh sản.
Sự sống nhờ đó mà h́nh thành.
Trong quá tŕnh sự sống, sinh
vật luôn luôn có tác động hổ tương với
môi trường chung quanh, nhận thức được
sự thay đổi của môi trường sống.
Những nhận thức đó biến đổi theo
sự biến đổi của môi trường sống.
Do nhận thức khác nhau, mỗi sinh vật có một
thế giới quan khác nhau. Theo lư thuyết
Nếu lư thuyết
1. Những nét cơ bản
của các nền triết học Đông và Tây
Nền cổ triết học Hy
Lạp thế kỷ thứ sáu trước công nguyên bao
gồm hai trường phái chính: Trường phái Milesian và
trường phái Eleatic. Những nhà triết học
thuộc trường phái Milesian quan niệm rằng
vạn vật có sự sống. Thales cho rằng mọi
vật thể đều có linh khí. Anaximander thấy vũ
trụ như là một cơ thể được nuôi
dưỡng bởi vũ trụ khí, giống như sự
sống trên địa cầu được nuôi
dưỡng bằng không khí vậy. Heraclitus tin rằng
vạn vật trong vũ trụ luôn luôn biến
đổi. Ông cho rằng tính năng động và tuần
hoàn của những cặp gồm những siêu lực
đối nghịch là nguyên nhân của sự biến
đổi này. Như vậy triết học của
trường phái Milesian gần giống như nền
cổ học đông phương.
Trái lại, triết học
của Xenophanes thuộc trường phái Eleatic cho rằng
đứng trên tất cả là Thượng Đế
(Being) tuyệt đối và vĩnh cửu. Thượng
Đế là chân lư tối hậu duy nhất. Những
sự sống có cảm xúc như chúng ta chỉ là tạm
bợ và có thể bị hủy diệt. Ban đầu khái
niệm Thượng Đế được xem như là
một thể thống nhất của vũ trụ,
nhưng sau đó Thượng Đế được xem
như có nhân tính với đầy đủ những
đặc điểm chân thiện mỹ, đứng trên
tất cả và d́u dắt vũ trụ. Parmenides, môn
đồ của Xenophanes, cho rằng vũ trụ không
hề biến đổi. Những biến đổi chúng
ta quan sát thấy thực ra chỉ là những ảo
ảnh của những giác quan của chúng ta. Với quan
niệm này về Thượng Đế, sự phân chia giữa
linh hồn và thể xác bắt đầu h́nh thành, và đă
trở thành đặc trưng của nền triết
học phương tây.
Để dung ḥa hai quan niệm
đối nghịch giữa một Thượng
Đế bất biến của Parmenides và một vũ
trụ luôn luôn biến đổi của Heraclitus, những
nhà triết học Hy Lạp của thế kỷ sau đó
(thế kỷ thứ năm trước công nguyên) cho
rằng Thượng Đế biểu hiện trong
những thể bất biến nhất định nào
đó, và sự phối hợp cũng như phân chia
của những thể bất biến này là nguyên nhân
của những biến đổi trong vũ trụ.
Quan điểm dung ḥa trên đă
đưa đến khái niệm về atom trong triết
học của Leucippus và Democritus. Atom là đơn vị
nhỏ nhất của vật chất không thể bị
hủy diệt. Atom được xem như những
đơn vị cơ bản của vật chất, không
có linh khí, di chuyển trong chân không dưới tác
động của những ngoại lực có linh khí.
Chủ thuyết atom như vậy đă phân chia một ranh
giới rơ ràng giữa thể xác và linh hồn.
Thế giới linh hồn
được xem là trọng yếu của sự
sống, và do đó vấn đề đạo đức
được đặt ra. Aristotle tin rằng linh hồn
con người và sự chiêm ngưỡng Thượng
Đế quan trọng hơn nhiều so với thế
giới vật chất vô tri. Chủ thuyết này của
Aristotle được giáo hội Ky Tô giáo thời trung cổ
hưởng ứng nồng nhiệt. Nhưng chính chủ
thuyết này đă tŕ trệ sự phát triển của khoa
học suốt 2000 năm, v́ không có ai quan tâm nghiên cứu
cái thế giới vật chất bị xem là thứ
yếu này.
Măi đến thời phục
hưng khi ảnh hưởng của Aristotle và Giáo hội
đă phai mờ, khoa học phương tây bắt
đầu quan tâm đến thế giới vật
chất. Sự nghiên cứu và thực nghiệm khoa học
đă bắt đầu vào cuối thế kỷ 15. Song
song với nghiên cứu khoa học, người ta bắt
đầu quan tâm đến toán học. Từ đó
những lư thuyết khoa học được biểu hiện
bằng ngôn ngữ toán học. Galileo là người
đầu tiên đă kết hợp kiến thức
thực nghiệm với toán học, và do đó
được xem như là cha đẻ của khoa học
hiện đại.
Vào thế kỷ 17, triết gia
Descartes đă phát triển lư thuyết nhị nguyên (linh
hồn và vật chất) thêm một bước. Linh
hồn và vật chất thuộc vào hai cảnh giới
độc lập. Với sự phân chia đó, các nhà khoa
học đă xem vật chất như những vật
chết, hoàn toàn khác hẳn với sự sống. Họ
nh́n vũ trụ như một chiếc máy khổng lồ
trong đó mỗi vật thể được xem như
một bộ phận.
Triết học Descartes không
những quan trọng trong việc phát triển ngành vật
lư cổ điển mà con ảnh hưởng sâu sắc
đến cách thức suy nghĩ của phương tây cho
đến ngày nay. “Tôi suy nghĩ, do đó tôi tồn
tại.” (I think, therefore I exist.) Câu nói này của Descartes
đă làm người phương tây xem tri thức là chính
yếu và độc lập với thể xác. Thể xác
chỉ là thứ yếu. Tri thức mới chính là bản
ngă của con người. Tri thức điều khiển
thể xác. Điều này dẫn đến mâu thuẫn
giữa ư chí và bản năng. Thiên nhiên được xem
như riêng rẻ đối với con người nên con
người tha hồ khai thác thiên nhiên, không hề nghĩ
đến hậu quả. V́ tự cho ḿnh có một bản
ngă nên sự so sánh không thể tránh khỏi. Điều này
dẫn đến tranh chấp xung đột kỳ
thị. Kỳ thị giai cấp. Kỳ thị chủng
tộc. Kỳ thị tôn giáo. Kỳ thị chính trị,
văn hóa …
Ngược với những quan
điểm trên đây, triết học đông phương
quan niệm vũ trụ là một vũ trụ hữu
cơ. Mọi sự vật và biến cố chúng ta cảm
nhận được liên quan mật thiết lẫn nhau.
Tất cả những sự vật và biến cố
đó thật ra là những biến hóa khác nhau của cùng
một thực tại. Theo quan điểm đông
phương, khuynh hướng xem vạn vật như
những vật thể riêng rẻ và xem mỗi chúng ta
như có một bản ngă chỉ là một ảo
tưởng của tâm thức. Theo triết học
Phật Giáo, ảo tưởng đó là do sự mê muội
của chúng ta, tượng trưng cho một trạng thái
rối loạn của tâm thức. Khi trạng thái tâm
thức trở nên thanh tịnh, ảo tưởng đó
sẽ tự nhiên tan biến.
Mặc dù nhiều trường
phái triết học đông phương khác nhau về
nhiều chi tiết, tất cả các trường phái
đó, dù là triết học Phật Giáo, Ấn Độ
Giáo hay Lăo Giáo, đều nhấn mạnh một trọng
điểm rằng vũ trụ là một thể thống
nhất, là hữu cơ, có sinh khí, luôn biến động,
trong đó mọi sự vật tương quan phụ
thuộc lẫn nhau. V́ biến động là đặc
trưng của sự vật, lực gây nên sự biến
động đó không phải là ngoại lực như
triết học cổ điển Hy Lạp quan niệm,
trái lại, là nội lực thuộc vào bản chất
của sự vật. Cái tinh khiết nhất theo triết
học đông phương, do đó, không phải là một
thượng đế tối cao cai trị thế
giới, trái lại, cái tinh khiết nhất là nguyên tắc
đạo đức, là phương châm xử thế,
xuất phát từ ngay bên trong sự vật.
Chúng ta hăy phân tích xem phải
chăng tồn tại một nội lực thuộc vào
bản chất của sự vật như những
triết học đông phương đă khẳng
định. Và phải chăng tồn tại một linh
hồn độc lập với thể xác như triết
học phương tây quan niệm.
2. Bản chất năng
động của vạn vật
Vật chất, dù ở thể
rắn, thể lỏng hay thể khí, đều
được h́nh thành do sự kết hợp của
những phân tử. Trong quá khứ, có chủ thuyết cho
rằng vật chất, dù ở thể rắn, thể
lỏng hay thể khí, đều có tính liên tục, nghĩa
là, một khối vật chất có thể phân chia thành
những phần vô cùng bé theo ư muốn, và mỗi phần bé
nhỏ đó vẫn không thay đổi bản chất.
Ngày nay, thực nghiệm cho thấy vật chất h́nh
thành là do sự kết hợp của những phân tử.
Hăy h́nh dung một muỗng nước. Chia thành hai, rồi
thành bốn, rồi thành tám, v.v., chúng ta vẫn nhận
được nước. Tuy nhiên sự phân chia không
thể kéo dài vô hạn. Sẽ đến một lúc, sự
phân chia sẽ cho chúng ta những phần nhỏ, tất
nhiên rất nhỏ, không c̣n là nước nữa.
Đơn vị phân chia nhỏ nhất vẫn c̣n mang tính
chất nước được gọi là một phân
tử nước. Phân chia một phân tử nước
sẽ không c̣n là nước nữa. Ngày nay chúng ta biết
một phân tử nước là một kết hợp
giữa hai nguyên tử hydrogen (H) và một nguyên tử oxygen
(O). Do đó công thức của một phân tử
nước là H2O. Tính chất của một phân tử
nước hoàn toàn khác với tính chất của một
nguyên tử hydrogen hay oxygen. Tương tự, một phân
tử dưỡng khí, O2, gồm hai nguyên tử oxygen, và
tính chất của dưỡng khí – rất cần cho
sự hô hấp – hoàn toàn khác với tính chất của nguyên
tử oxygen. Ozone, O3, cũng thế, có tính chất hoàn toàn
khác với các nguyên tử oxygen. Chúng ta có thể h́nh dung kích
thước cực kỳ bé nhỏ của những nguyên
tử và phân tử. Một muỗng nước gồm
khoảng hai trăm ngàn tỷ tỷ phân tử
nước. Nếu tất cả mọi người trên
địa cầu cùng nhau đếm số phân tử trong
một muỗng nước, giả sử với tốc
độ đếm mỗi phân tử một giây
đồng hồ, sẽ mất một thời gian
khoảng hơn một triệu năm!
Sự sống của chúng ta
nhờ vào bầu khí quyển trong đó khoảng hơn 20%
là dưỡng khí. Chúng ta cần những loại khí khác
nhau vào những công việc khác nhau như hàn thép, ánh sáng
neon, thuốc tê mê cho việc giải phẫu, nấu
nướng, bơm bánh xe, và kể cả việc dùng
để giết người. Những cây cối chết
chôn vùi dưới ḷng đất dần dần sẽ
bị phân hóa bởi áp suất và nhiệt, biến thành than
đá và khí đốt thiên nhiên, rất cần thiết cho
sự sống của chúng ta. Ngày nay nền kỹ nghệ
phát triển đă sản xuất nhiều loại khí
độc hại, ô nhiễm môi trường sống và có
thể làm cho nhiệt độ địa cầu tăng
lên, đe dọa sự sống. Có những loại khí, ví
dụ khí helium, hầu như không có tác dụng với
những vật chất khác, nhưng cũng có loại khí,
ví dụ khí chlorine, có tác dụng nhạy bén. Khí chlorine, có
màu rêu nhạt, có thể dùng để giết
người, chết một cách đau đớn.
Tuy mỗi loại khí khác nhau có
những tính chất khác nhau, nhưng đặc tính chung cho
mọi loại khí là sự chuyển động không
ngừng của các phân tử khí. Tùy theo khối
lượng và nhiệt độ, các phân tử khí có
những tốc độ khác nhau. Nặng hơn th́
tốc độ chậm hơn. Nhiệt độ cao
hơn th́ tốc độ nhanh hơn. Hăy h́nh dung một
loại khí nào đó đựng trong một b́nh đậy
kín, để b́nh đứng yên trong một căn pḥng
ở nhiệt độ b́nh thường (khoảng 25oC).
Những phân tử khí sẽ có những chuyển
động ngẫu nhiên, liên tục va chạm lẫn nhau
và đổi hướng chuyển động. Người
ta có thể tính toán hoặc đo những vận tốc
trung b́nh của những phân tử của mỗi loại
khí ở một nhiệt độ nào đó. Sau đây là
vài vận tốc trung b́nh của những phân tử
của vài loại khí đựng trong một chiếc b́nh
để trong một căn pḥng ở nhiệt độ
b́nh thường:
Khí
hydrogen
3800 dặm/giờ
Khí
helium
2800 dặm/giờ
Khí oxygen
1030 dặm/giờ
Khí carbon
dioxide
830 dặm/giờ.
Các loại khí trên đây
được sắp theo thứ tự khối
lượng các phân tử tăng dần. Do đó vận
tốc trung b́nh của chúng giảm dần. Ở một nhiệt
độ cao hơn nhiệt độ b́nh thường
trong pḥng, vận tốc trung b́nh của các loại khí
sẽ cao hơn. Vận tốc trung b́nh của những
phân tử khí oxygen chẳng hạn sẽ tăng lên
khoảng 7% khi nhiệt độ tăng từ 0oC
đến 40oC.
Chúng ta có thể ngửi
được mùi các loại rượu nhờ sự
bốc hơi. Bốc hơi là hiện tượng trong
đó những phân tử trên bề mặt của một
chất lỏng rời khỏi chất lỏng và bay vào
không khí. Ở nhiệt độ b́nh thường trong pḥng,
vận tốc trung b́nh của những phân tử
rượu khoảng 800 dặm/giờ. Tuy nhiên nếu chúng
ta để một ly rượu trong pḥng, cách chúng ta
chỉ khoảng một thước, chúng ta cũng khó có
thể ngửi thấy mùi rượu. Tại sao? Hơi
rượu khi bay vào không khí th́ liên tục va chạm
với những phân tử của không khí, khoảng 6
tỷ lần trong mỗi giây đồng hồ, và do đó
liên tục đổi hướng chuyển động.
Một phân tử rượu trong không khí yên tĩnh
phải di chuyển một đoạn đường
khoảng 30 triệu dặm trước khi có thể
đến lỗ mũi chúng ta. Như vậy mặc dù
những phân tử rượu có vận tốc trung b́nh 800
dặm/giờ, xác suất để hơi rượu bay
đến chúng ta vẫn rất thấp, trừ phi có
một cơn gió thổi hơi rượu thẳng
đến chúng ta. Đối với những chất
lỏng cũng tương tự: Nếu cho một
giọt mực vào một thau nước, mực sẽ lan
ra một cách chậm chạp trừ phi chúng ta khuấy thau
nước. Những phân tử mực phải va chạm
vô số lần với những phân tử nước, và
do đó liên tục đổi hướng chuyển
động.
Nếu chúng ta thả những
hạt phấn hoa tí hon vào một thau nước, chúng ta
sẽ quan sát thấy chúng chuyển động không
ngừng theo những hướng khác nhau. Robert Brown là
người đầu tiên nghiên cứu hiện
tượng này một cách nghiêm túc nên loại chuyển
động này được gọi là chuyển
động Brown (Brownian motion). Ban đầu ông cho rằng
chỉ những tế bào đực mới có loại
chuyển động như thế (bởi v́ đực
thường nghịch ngợm hơn cái). Nhưng sau đó
khi ông dùng những phấn hoa của những cây đă chết
lâu năm, ông vẫn quan sát cùng một hiện
tượng. Như vậy, không riêng ǵ những phấn
hoa, bất cứ loại bụi nào cũng có chuyển
động Brown. Tuy nhiên ông không có lời giải thích
thỏa đáng về chuyển động Brown cho
đến 50 năm sau. Ngày nay chúng ta biết chuyển
động của những hạt phấn hoa là do sự
va chạm ngẫu nhiên với những phân tử
nước luôn luôn di động. Các phân tử
nước, hay của bất cứ một chất
lỏng nào, luôn luôn chuyển động không ngừng.
Hoạt động của các tế bào sẽ bị
ngưng trệ nếu những phân tử của các chất
lỏng trong cơ thể ngưng chuyển động.
Sự sống sẽ không tồn tại nếu không có
loại chuyển động bất diệt này của
những phân tử trong các chất lỏng.
Chuyển động từ
nơi này đến nơi khác (gọi là chuyển
động tịnh tiến) của những phân tử
trong các chất khí hoặn chất lỏng luôn xảy ra.
Ở thể khí, các phân tử tự do di chuyển. Một
mẩu khí đựng trong b́nh sẽ tức khắc lan tràn
khắp b́nh. Ở thể lỏng, khoảng cách giữa các
phân tử rất nhỏ. Tuy nhiên chúng vẫn có thể di
chuyển, na ná giống người ta di chuyển trong
một đám động chật ních người. Trong
chất rắn, các phân tử cũng có thể có chuyển
động tịnh tiến trong một vài trường
hợp. Những nguyên tử và phân tử trong một
chất rắn thường chiếm những vị trí
nhất định. Tuy nhiên chúng không bất động!
Chúng luôn luôn tháy máy như những ca sỹ đang ḥa ca
một bản nhạc. Chúng nhích qua nhích về, nhích lên nhích
xuống quanh vị trí thường trực của chúng.
Nói khác đi, chúng luôn luôn có chuyển động rung hay dao
động (vibrational motion). Chúng ta khó có thể quan sát
thấy chuyển động rung bởi v́ độ dao
động th́ rất bé. Tất nhiên các phân tử của
nhiều chất ở thể khí hoặc thể lỏng
cũng có chuyển động rung. Ngoài chuyển
động tịnh tiến và rung, các phân tử c̣n có
thể có chuyển động quay (rotational motion).
Chuyển động của
những vật thể chúng ta có thể quan sát
được, theo trực giác thông thường của
chúng ta, cuối cùng sẽ dừng lại. Nếu không, chúng
ta có thể làm cho những chuyển động đó
ngừng lại. Mỗi chúng ta cuối cùng cũng phải
yên nghỉ. Nuớc sông Hương vẫn trôi hiền ḥa.
Múc một thau nước sông Hương để yên trên
mặt đất, nước trong thau sẽ ngừng trôi.
Nhưng nắm xương khô c̣n lại của chúng ta có
thật sự yên nghỉ không? Nước sông Hương
đựng trong thau có thật sự đứng yên không?
Hẳn là không. Những phân tử trong nắm xương
khô vẫn không ngừng dao động. Những phân tử
nước trong thau vẫn chuyển động không
ngừng. Khi chúng ta làm đông lạnh thau nước,
chuyển động tịnh tiến và chuyển
động quay của những phân tử nước có
thể ngừng lại, nhưng những phân tử
nước đông lạnh đó vẫn có những dao
động phức tạp. Biên độ dao động có
thể trở nên nhỏ hơn khi nhiệt độ
giảm xuống. Nhưng biên độ dao động không
bao giờ triệt tiêu, cho dù nhiệt độ hạ
xuống mức thấp nhất, tức zero độ
Kelvin, hoặc 273.15 độ âm Celsius, c̣n được
gọi là zero tuyệt đối (absolute zero). Như vậy
không có cách ǵ có thể làm ngưng chuyển động rung
của các phân tử và các nguyên tử. Có chuyển
động tức có năng lượng. Và năng
lượng này của mỗi nguyên tử hoặc phân
tử ở nhiệt độ zero tuyệt đối
được gọi là năng lượng zero tuyệt
đối (zero point energy).
V́ luôn luôn có năng lượng,
vật chất luôn luôn năng động. Và tính năng
động này của vạn vật là vĩnh cửu, là
bản chất của vạn vật. Cho dù Thượng
Đế là đấng sáng tạo muôn loài, ít ai tin rằng
Ngài có thể hũy diệt tính năng động của
vạn vật. Và có lẽ tính năng động này là cái
mà triết học đông phương gọi là nội
lực.
Khi chúng ta ép một chất khí
trong b́nh, thể tích khí thu nhỏ lại, khoảng cách
giữa các phân tử khí ngắn lại. Sự va chạm
giữa những phân tử khí và va chạm với thành b́nh
bây giờ trở nên mạnh hơn. Vận tốc trung b́nh
của những phân tử khí trở nên lớn hơn.
Năng lượng dồi dào hơn, và nhiệt độ
khí tăng lên. Áp suất khí tác động lên thành b́nh cao
hơn. Ở một nhiệt độ nhất
định, áp suất khí tỉ lệ nghịch với
thể tích khí trong b́nh (Định luật Boyle). Khí biết
chan ḥa với môi trường chung quanh, biết phản
ứng một cách thích hợp với môi trường chung
quanh. Khí có thể là một cơn gió nhẹ thoáng qua,
cũng có thể là một cơn băo tố tàn phá khủng
khiếp.
3. Tính tự tổ chức,
tính sáng tạo và tính tự sinh sản của vạn
vật
Tính năng động của
các nguyên tử và phân tử đóng vai tṛ then chốt trong
những phản ứng hóa học. Khi những phân tử
và nguyên tử chuyển động va chạm nhau với
những tốc độ thích hợp, nghĩa là ở
những nhiệt độ thích hợp, chúng có thể
kết hợp với nhau tạo thành những phân tử
lớn hơn và phức tạp hơn. Chẳng hạn,
một phân tử hydrogen (H2) có thể tác dụng với
một nguyên tử oxygen (O) để tạo thành một
phân tử nước (H2O). Thông thường, ở
nhiệt độ cao hơn, những phản ứng hóa
học dễ xảy ra hơn. Ví dụ, ở nhiệt
độ b́nh thường, hỗn hợp khí oxygen và
hydrogen không tác dụng lẫn nhau. Tuy nhiên nếu chúng ta châm
một que diêm vào hỗn hợp đó, ta sẽ nghe
tiếng nổ (phản ứng hóa học xảy ra) và
những phân tử nước sẽ h́nh thành. Một ví
dụ khác: Những thức ăn hằng ngày chúng ta
thường chứa trong tủ lạnh để tránh
những phản ứng hóa học có thể xảy ra làm
hư thối.
Những phản ứng hóa
học thường xuyên xảy ra trong những tế bào.
Sự sống chỉ có thể duy tŕ nếu những
phản ứng hóa học này xảy ra không chậm quá,
cũng không nhanh quá. Có nhiều loại phản ứng trong
tế bào, khi cho tác dụng ở ngoài tế bào sẽ
xảy ra rất chậm chạp. Lư do không phải v́ ở
trong tế bào có “linh khí” hoặc có phép lạ làm cho tốc
độ phản ứng nhanh hơn. Phản ứng
xảy ra nhanh hơn ở trong tế bào v́ tế bào có
chứa những chất xúc tác gọi là enzymes, có nhiệm
vụ tăng tốc độ của một số
phản ứng hóa học. Mỗi tế bào chứa
đựng khoảng 1000 enzymes.
Chuyển động của
những phân tử và nguyên tử c̣n có thể tạo ra
một loại phản ứng khác nữa: Phản ứng
hạt nhân, xảy ra ở nhiệt độ rất cao.
Mặt trời chúng ta có nhiệt độ khoảng 15
triệu độ Celsius ở trung tâm, và giảm dần
xuống khoảng 6 ngàn độ Celsius ở bề
mặt. Chúng ta biết những dương điện
tử th́ có sức đẩy lẫn nhau. Càng gần nhau
sức đẩy càng mạnh hơn. Chỉ khi nào vận
tốc trung b́nh của hai dương điện tử
đủ lớn mới có thể chiến thắng
được sức đẩy đó, và có thể
kết hợp với nhau. Nhờ nhiệt độ cao
ở bên trong mặt trời đă tạo cho những
dương điện tử có được vận
tốc trung b́nh đủ lớn đó, khoảng hơn
nửa triệu cây số giờ, gấp một ngàn
lần vận tốc trung b́nh của một phân tử
dưỡng khí ở nhiệt độ pḥng thí nghiệm
trên địa cầu. Và do đó hai dương
điện tử bên trong mặt trời đă có thể
tổng hợp thành một hạt nhân deuterium cọng
với hai hạt tiềm nguyên tử neutrino và positron.
Đây chính là bước đầu trong quá tŕnh sản
xuất năng lượng mặt trời.
Chúng ta thừa biết nếu
không có năng lượng mặt trời, không thể có
sự sống trên địa cầu. Hẳn chúng ta
phải chúc thọ mặt trời hầu cứu văn sự
sống trần gian. Trung b́nh, một dương
điện tử bên trong mặt trời tiếp tục di
chuyển va chạm khoảng một tỷ năm
trước khi tổng hợp với một dương
điện tử khác. Do đó mặt trời cháy khá
chậm chạp, vừa làm cho ḿnh có thể sống lâu,
vừa tỏa năng lượng đủ ấm cho
địa cầu. Mặt trời đă được
khoảng bốn tỷ rưởi tuổi, và c̣n thọ
thêm ít ra là năm tỷ năm nữa. Các bạn biết
cùng một khoảng thời gian như nhau, mỗi kilô
cơ thể chúng ta sản xuất một năng
lượng gấp mười ngàn lần năng
lượng sản xuất bởi một kilô vật
chất trên mặt trời. Chỉ v́ khối lượng
mặt trời quá khổng lồ, khoảng gấp mười
triệu triệu triệu lần khối lượng
của dân số trên địa cầu, nên cứ mỗi
khoảng thời gian như nhau, mặt trời sản
xuất một năng lượng gấp khoảng
một ngàn tỷ lần năng lượng do toàn bộ
dân số trên địa cầu sàn xuất.
Khoảng một tỷ năm
sau khi địa cầu h́nh thành, carbon – hóa chất
thiết yếu nhất của sự sống – phối
hợp với những hóa chất cần thiết khác
của sự sống là hydrogen, oxygen, nitrogen, sulfur và
phosphorus để tạo thành những phân tử hóa
học phức tạp khác nhau. Với điều kiện
thuận lợi của địa cầu thời bấy
giờ, một số những phân tử nói trên đă
trở thành những chất xúc tác làm gia tăng tốc
độ của những phản ứng hóa học.
Dần dần, những phản ứng hóa học khác nhau
này móc nối chặt chẽ với nhau, tạo thành
những mạng lưới gồm những chu tŕnh kín có
khả năng tự tổ chức và tự sinh sản.
Sau đó những chu tŕnh kín này biến hóa thành những
cấu trúc mới, có thể trao đổi năng
lượng với môi trường chung quanh. Nhờ
sự trao đổi năng lượng này, những
cấu trúc nói trên có thể vượt qua những quá tŕnh
xáo trộn để trở thành những hệ thống
tinh vi phức tạp và đa dạng hơn. Bây giờ
mỗi hệ thống bắt đầu h́nh thành một
màn ngăn, tạo sự tự lập cho chính ḿnh, tuy
vẫn tiếp tục trao đổi năng lượng
với môi trường chung quanh. Nhà sinh vật học
Margulis cho rằng những hệ thống này có thể
đă biến hóa thăng trầm nhiều lần
trước khi những phân tử di truyền DNA h́nh thành.
Những tế bào vi trùng đầu tiên đă h́nh thành
khoảng ba tỷ rưởi năm trước đây,
bắt đầu sự sống trên địa cầu.
4. Tâm thức, quá tŕnh của
sự sống và vấn đề tâm-thân
Trong quá tŕnh sự sống, sinh
vật luôn luôn có tác động hổ tương với
môi trường chung quanh. Do tính tự lập của ḿnh,
sinh vật có thể nhận thức được sự
thay đổi đó của môi trường sống. Xáo
trộn của môi trường sống có thể tạo
điều kiện làm thay đổi cấu trúc của
sinh vật. Tuy nhiên v́ mỗi sinh vật đều mang tính
tự lập, sự thay đổi cấu trúc không
phải do môi trường chung quanh, trái lại do chính sinh
vật ấn định và điều khiển chi
phối. Và sự thay đổi cấu trúc dẫn theo
sự thay đổi nhận thức của sinh vật
đối với môi trường chung quanh. V́ sự thay
đổi cấu trúc của mỗi sinh vật không
nhất thiết giống nhau, mỗi sinh vật nh́n
thế giới bên ngoài mỗi khác. Hai sinh vật khác nhau có
thể nh́n môi trường chung quanh bằng hai thế
giới khác nhau.
Với những quan sát và phân tích
trên đây, hai nhà sinh vật học Maturana và Varela đă phát
triển một lư thuyết gọi là lư thuyết Santiago,
cho rằng tri thức chính là quá tŕnh của sự sống.
Tri thức không phải là một vật thể mà là
một quá tŕnh. Và chính v́ tri thức đồng nghĩa
với quá tŕnh của sự sống, tri thức bao gồm
nhận thức, cảm xúc và hành vi. Hơn thế nữa,
những sinh vật không có năo bộ và thần kinh hệ
vẫn có thể có tri thức. Ngay cả những loài vi
trùng cũng có thể nhận thức được
một số đặc tính của môi trường chung
quanh. Chúng có thể cảm giác được sự khác
nhau của những hóa chất, và nhờ vậy, chúng di
chuyển đến những chất đường và
tránh xa những chất acid. Chúng có thể phân biệt
được nóng lạnh. Cũng có những loại vi
trùng có thể cảm giác được những từ
trường chung quanh chúng. Cùng một môi trường sống
như nhau, các loài vi trùng và chúng ta nh́n thành hai thế
giới hoàn khác nhau. Thế giới của vi trùng là thế
giới gồm sự nóng lạnh, những từ
trường, những hóa chất khác nhau. Có lẽ chỉ
đơn giản thế. Nhưng thế giới của
chúng ta th́ đa dạng, muôn mầu muôn vẻ.
Mỗi sinh vật là một
phần tử của những thế giới của
những sinh vật khác. Nhờ vậy các sinh vật có
thể thông tin lẫn nhau và do đó có thể có những
hành vi phối hợp. Mức độ tinh vi của sinh
vật càng cao, phạm vi tác động với môi
trường chung quanh càng rộng lớn hơn. Khi
đạt đến một mức độ tinh vi
nhất định nào đó, sinh vật không những tác
động với môi trường chung quanh mà c̣n tác
động với chính bản thân, và như vậy, sinh
vật không những tạo ra một ngoại cảnh mà
c̣n tạo ra một nội giới nữa. Sáng tạo
một nội giới th́ dính líu mật thiết
đến ngôn ngữ, tư tưởng và tâm thức.
Đó là trường hợp của loài người chúng
ta.
Mỗi sinh vật sáng tạo ra
một ngoại giới cho riêng ḿnh không có nghĩa rằng
không có một thế giới vật chất bên ngoài. Lư
thuyết
Theo lư thuyết
Thật ra kể từ khi khoa
học kỹ thuật phát triển, khái niệm về
sự tồn tại một linh hồn độc lập
với thể xác đă làm khó khăn không ít trong việc nghiên
cứu khoa học. Sự phân chia đă làm cho việc t́m
hiểu quan hệ giữa tri thức và năo bộ trở
nên mơ hồ và bế tắc. Sự tồn tại
của linh hồn độc lập với thế
giới vật chất dẫn đến khái niệm cho
rằng con người có thể quan sát và mô tả sự
vật một cách khách quan. Điều này đă hoàn toàn
tương phản với lư thuyết cơ học nguyên
lượng, là một lư thuyết đă và đang
đứng vững trước tất cả những
thử thách kiểm chứng thực nghiệm và đă áp
dụng vào các ngành kỹ thuật thành công rực rỡ.
Sự phân chia giữa thể xác
và linh hồn cũng đă dẫn đến một sai sót
khác: Xem thế giới vật chất là thứ yếu,
chỉ giống như một bộ máy cơ khí. Do đó
phương pháp phân tích được xem như tối
hậu trong việc nghiên cứu thế giới vật
chất. Điều này đă làm khó khăn trong việc
nghiên cứu về sự sống. Đối với các
bệnh tâm lư và tâm thần chẳng hạn: Phương
pháp phân tích chỉ chú trọng đến việc chữa
trị năo bộ hay một vài cơ quan liên hệ khác.
Đây là một thiếu sót bởi v́, tâm lư và tâm thần là
một hệ quả không những chỉ đơn
thuần sinh lư mà c̣n tùy thuộc vào tâm tư t́nh cảm,
đời sống tâm linh, những ảnh hưởng
của gia đ́nh, xă hội và môi trường sống
của cả một quá tŕnh sinh trưởng. Phương
pháp phân tích cũng dường như đang bó tay
trước những cơn bệnh hiểm nghèo của
thời đại như bệnh AIDS và bệnh ung thư.
Chúng ta không ngạc nhiên rằng
các nhà khoa học không cần phải đề cập
đến những khái niệm về linh hồn và
thượng đế trong việc nghiên cứu của
họ.
5. Vấn đề nhân
quả, luân hồi và ḍng tâm thức
Người ta thường
bảo gieo gió gặt băo, hoặc ở hiền gặp lành.
Nhưng phải chăng đă gieo gió th́ 100% sẽ gặt
băo? Phải chăng ở hiền th́ 100% sẽ gặp lành?
Phải chăng nhân quả là chắc nịch như
thế, nhân nào phải quả ấy? Thật ra đây là
thuyết khẳng định, đă có một thời vang
bóng. Vốn xuất phát từ lư thuyết chuyển
động của
Người ta hay nói cờ
bạc là bác thằng bần. Và nhiều người
đều cho rằng cờ bạc th́ tất yếu
phải bần cùng. Qủa thật đa số người
nghiện cờ bạc đều tan cửa nát nhà. Nhưng
không phải tất cả! Lư thuyết xác suất khẳng
định rằng vẫn có một may mắn (dù nhỏ
bé) để người ghiền cờ bạc trở nên
giàu có.
Khi thả một con súc sắc,
không ai biết chắc mặt số mấy sẽ xuất
hiện. Có kẻ khuất mặt khuất mày điều
khiển con súc sắc? Đừng nghĩ vậy. Phật
sẽ chê chúng ta mê tín dị đoan. Hành động
“thả con súc sắc” có thể có đến 6 hậu
quả khác nhau mà không ai có thể biết chắc chắn
hậu quả nào sẽ xẩy ra.
Kỳ quái hơn nữa là
đối với những hạt tiềm nguyên tử,
đôi khi “quả” xuất hiện mà chẳng thấy “nhân”
nào hết! Một hạt âm điện tử trong một
nguyên tử có thể nhảy vọt một cách ma quái từ
mức năng lượng này xuống mức năng
lượng kia, chẳng cần một nguyên nhân nào
hết.
Ngày nay thuyết nguyên
lượng đă chứng minh sự sai lầm của
thuyết khẳng định. Chỉ cần áp dụng
thuyết ấy vào những sự vật cũng đă là
một sai lầm, đừng nói đến áp dụng vào
sự sống. Cần nhấn mạnh rằng thuyết
nguyên lượng hiện đang đứng vững qua bao
nhiêu thử thách thực nghiệm, và đang cung cấp cho
nhân loại không biết bao nhiêu ứng dụng (hữu ích
có, tai hại có).
Lư thuyết nhân quả c̣n đi
xa thêm một bước: Nếu quả không xảy ra trong
kiếp này th́ chắc chắn sẽ xảy ra trong kiếp
sau hay kiếp sau nữa. Điều này dẫn đến
thuyết luân hồi. Phải chăng có luân hồi
chuyển thế?
Những người tin vào
thuyết luân hồi thường cho rằng một bào thai
chỉ có thể h́nh thành, ngoài tinh cha huyết mẹ làm
cơ sở vật chất ra, cần có cái gọi là
Thức (chữ Thức thường được
viết hoa) sẵn sàng tham dự vào sự sống
tương lai. Như vậy thai nhi chỉ thông qua cha
mẹ để đến với thế gian. Quan hệ
giữa cha mẹ và thai nhi chỉ là một quan hệ duyên
nghiệp mà chỉ những vị đắc đạo
như Đức Phật mới thấy rơ
được.
Tôi vẫn băn khoăn cái
gọi là “Thức” phải sẵn sàng gia nhập mới có
thể có thai nhi. Tôi vẫn nhớ lời nhạo báng
của triết học gia Gilbert Ryle, phê phán thuyết
nhị nguyên của Descartes, rằng linh hồn ngự
trị trong thân xác giống như “con ma trong chiếc máy”.
Nếu hỏi Descartes – giả sử ông ta c̣n sống –
“Thức” là ǵ. Hẳn ông ta trả lời không ngần
ngại rằng đó là linh hồn. Nếu không phải
linh hồn th́ “Thức” là ǵ?
Nếu chúng ta tin có kiếp sau
một cách hoàn toàn xác định, ví dụ, kiếp này ông A
quá độc ác nên kiếp sau chính ông A đó phải
xuống địa ngục. Như vậy khi ông A chết
đi, tuy thân xác biến thành tro bụi, vẫn c̣n “cái ǵ
đó” của ông A để xuống địa ngục
chịu tội. Phải chăng “cái ǵ đó” chính là cái
“Thức” chúng ta đề cập trên đây? Và nếu
những người đă đắc đạo như
Đức Phật biết ông A ở địa ngục
bây giờ chính là ông A của kiếp trước, th́ “cái ǵ
đó” nơi ông A tuy có thay đổi, tuy kiếp này làm
người ở thế gian kiếp sau bị đày
đọa ở địa ngục, nhưng vẫn
tồn tại vĩnh viễn, đặc trưng cho ông A.
Như vậy phải chăng “cái ǵ đó” vĩnh viễn
đặc trưng cho ông A na ná giống cái gọi là “linh
hồn” do Descartes chủ xướng?
Nếu “Thức” không phải là
linh hồn th́ chỉ c̣n cách xem nó như là quá tŕnh của
bản năng linh động biết tự tổ
chức và có tính sáng tạo của vạn vật. Khi tinh
của cha và huyết của mẹ ḥa hợp, tinh huyết
này sẽ trải qua quá tŕnh nói trên để h́nh thành thai
nhi. Nếu hiểu “Thức” theo cách này th́ “Thức” vốn
chưa h́nh thành trước khi tinh cha và huyết mẹ ḥa
hợp với nhau. Thai nhi ngay từ khi c̣n trong ḷng mẹ đă
bắt đầu tương tác với môi trường
chung quanh để tồn tại và phát triển. V́ vậy
“Thức” chính là tâm thức được h́nh thành trong quá
tŕnh học tập này. Tất nhiên quá tŕnh phát triển
của thai nhi không chỉ tùy thuộc vào môi trường
sống mà c̣n tùy thuộc vào tinh huyết của cha mẹ
mà có lẽ chính yếu là những genes của cha mẹ
đă ḥa hợp trong thai nhi.
Nếu lư thuyết
Phật Thích Ca không dạy chúng
ta rằng luân hồi chuyển thế là một thực
tại. Đạo Bà La Môn đang cực thịnh trong xă
hội đương thời của Ngài. Niềm tin vào
luân hồi do đó rất phổ biến thời bấy
giờ. Và rất nhiều đệ tử của Ngài
vốn xuất thân từ Bà La Môn giáo. Mục đích
của Ngài không phải để dẫn chúng sanh đi vào
những thế giới siêu h́nh. Tây Phương Phật
không phải là một thế giới huyền bí. Ngài
muốn biến địa cầu thành một Tây
Phương Phật. Sự sống đầy phiền
muộn khổ đau. Ngài muốn chúng sanh được
giải thoát khổ đau. Giải thoát không phải là
trốn tránh cũng không phải hũy diệt. Giải
thoát khổ đau là biến khổ đau thành hữu
dụng để giúp người giúp đời,
để cứu nhân độ thế, ngay trên vùng trời
này, ngay cho sự sống khổ đau đang sờ
sờ trước mắt. Giải thoát được
khổ đau là niết bàn. Niết bàn không phải là
một vùng trời xa xôi huyền bí. Tuy nhiên nếu có luân
hồi, nếu có một vùng trời huyền bí gọi là
Tây Phương Phật hay Niết Bàn th́ những lời
dạy của Ngài vẫn hữu dụng, vẫn có thể
giúp chúng sanh đến những nơi đó sau cơi
đời này. Hẳn Ngài đă dẫn giải bằng
những câu nói tương tự như thế khi Ngài
đối diện với những đệ tử
vốn có niềm tin sâu nặng vào luân hồi.
Sự sống luôn luôn có
những tác động ảnh hưởng lẫn nhau.
Suốt cả quá tŕnh sự sống, mỗi chúng ta
để lại không biết bao nhiêu vết hằn. Có
những vết hằn th́ đầy bầm tím. Có vết
hằn th́ đầy ḷng hy sinh cao cả. Làm thiện, làm
ác, cướp của giết người, v.v., đều
là những vết hằn.
Chopin đă ra đi nhưng
bản nhạc Tristesse vẫn c̣n đó. Schubert đă
mất nhưng Serenade vẫn c̣n đây. Cụ Tố
Như Nguyễn Du không c̣n nữa nhưng chuyện Kiều
vẫn trên môi. Công tŕnh triết học toán học và khoa
học mấy trăm năm qua của Descartes,
Phải chăng đó chính là ḍng
tâm thức, tiếp tục tồn tại cho dù sau khi thân
xác đă ră rời? Ḍng tâm thức này không phải như
những vật chết, trái lại rất linh
động. Phật Thích Ca của hơn 25 thế kỷ
trước đă trở thành vị Phật lịch
sử. Nhưng Phật Pháp của Ngài (thuộc vào ḍng tâm
thức) chúng ta vẫn xem như Phật sống, không
phải sao? Chúng ta có thể chọn văn thơ ca
nhạc kịch nghệ khoa học. Tin Chúa th́ chọn Kinh
Thánh. Tin Phật th́ chọn Phật Pháp. Nếu muốn gây
tội ác th́ chọn những hành động của Hitler.
Muốn hướng thiện th́ cũng có thể nh́n vào
những hành động hung bạo đó để tránh né.
Có lẽ cần phải học những bài học
đạo đức cơ bản trước khi
bước vào cửa hàng tạp hóa rất đa dạng
đó.
Khi một nhạc sĩ đàn
bản nhạc Tristesse, bản nhạc đó đă
được tái sinh trong người nhạc sĩ. Khi
một nhà thơ ngâm lại chuyện Kiều, những
vần thơ đó đă được tái sinh trong ḷng
người thi sĩ. Khi một giáo sư giảng dạy
lư thuyết chuyển động của
Triết học Đông
phương nói chung và triết học Phật Giáo nói riêng
quan niệm rằng biến động là đặc
trưng của sự vật, và lực gây nên sự biến
động đó không phải là ngoại lực như
triết học cổ điển Hy Lạp quan niệm,
trái lại, là nội lực thuộc vào bản chất
của sự vật. Khoa học ngày nay đă chứng minh
rằng vạn vật luôn luôn năng động. Hơn
thế nữa, vạn vật có tính tự tổ chức,
sáng tạo và tự sinh sản. Sự sống nhờ
đó mà h́nh thành.
6. Phật Giáo và vấn
đề siêu h́nh
Tôi thích đọc những
quyển sách về thiền thực hành để có
thể tập thiền ngay cả những lúc bận
rộn nhất. Nấu ăn cũng có thể thiền,
nghe nhạc hay xem TV hay đi ngoài đường phố
cũng có thể thiền. Tôi đi dạo phố một
chiều đẹp trời hôm nọ, nhớ đến
những chương mục nói về thiền đi
bộ. Tôi để ư đến hơi thở của ḿnh
theo từng bước đi. Khi khác, tôi để ư đến
nhịp tim. Một lúc khác nữa, tôi lại lắng nghe
tiếng cát vụn xào xạc dưới gót giày. Thật ra
bất cứ lần đi bộ nào tôi cũng cố
gắng thực hành hết. Có lúc thành công, theo nghĩa
rằng tôi đến chỗ tôi muốn đến hồi
nào không hay, không hấp tấp vội vàng, cũng chẳng
thấy mệt mỏi. Tuy nhiên rất nhiều lần
thất bại, nhất là những lúc tôi phải
đến đích đúng giờ hoặc càng sớm càng
tốt. Vào những lúc như thế tôi thường
mất sự chú tâm. Chỉ đếm được vài
nhịp thở th́ quên mất. Dự định quan sát
hoạt động của đèn xanh đèn đỏ,
chỉ chú tâm được một lúc th́ xao lăng ngay.
Hôm nay thật đẹp
trời. Hiển nhiên tôi tự nhủ ḷng “phải tập
thiền đi bộ.” Xác suất để thất bại
rất cao nên lần này cũng thất bại. Không
phải v́ phố đông người. Tôi thất bại
lần này v́ bị thời gian bắt cóc! Tôi thả
hồn vui buồn nơi chốn cũ:
Thẩn thơ từng
bước hôm nay
Chạnh ḷng thương nhớ
những ngày đă qua.
Rồi lúc khác tôi lại thả
hồn lăng mạn như đang nhớ thương ai:
Thật nhiều áo tím chiều
nay
Thấy ḷng rộn ră mới hay
nhớ người.
Lúc tỉnh táo trở lại, tôi
lẩm bẩm: Ông già dịch! Nhưng thay v́ trở lại
tập thiền, tôi len lén nh́n quanh xem có ai đang cho tôi
một cái nh́n chế nhạo nào không. Tôi chất vấn,
nhưng chỉ nói trong bụng thôi:
Có ai biết tôi đang buồn
vơ vẩn
Đang lang thang giữa đô
hội phồn hoa
Đang bơ vơ dưới
ánh nắng chan ḥa
Đang ch́m sâu trong nhạt nḥa mê
muội?
Bỗng tôi được
cứu, saved by the bell! Bên vệ đường thấy
người ta đứng bu quanh mấy chiếc bàn
đầy sách, CDs và DVDs. Tôi tiến lại gần xem. Toàn
sách và đĩa nói về Phật Giáo. Hơn nữa,
tất cả đều tặng miễn phí. Tôi tham lam
chọn hầu hết, mỗi thứ một bản. Tôi
vui mừng thầm nghĩ: Về nhà tha hồ xem. Tất
nhiên có nhiều bổ ích, chẳng hạn những bài
giảng về đạo đức ngũ giới
thập giới hay những chuyện về Phật Thích Ca
trước khi xuất gia. Tuy nhiên khi xem một số khác,
tôi không khỏi trầm ngâm suy nghĩ:
Phải chăng Phật Giáo quá
chú trọng về thế giới siêu h́nh? Động
cơ thúc đẩy Phật Thích Ca xuất gia là để
cứu khổ trần gian. Trần gian đầy khổ
đau. Sanh lăo bệnh tử là khổ đau. Tham sân si là
khổ đau. Kỳ thị giai cấp, kỳ thị
chủng tộc, thủ cựu, mê tín dị đoan, áp
bức bóc lột, cường hào ác bá là khổ đau.
Chiến tranh là khổ đau. Xă hội đương
thời của Ngài là như thế. Và bây giờ
dường như cũng chẳng khác bao nhiêu. Nhưng
phải chăng lời dạy của Ngài là lời hứa
hẹn sẽ đưa chúng sanh đến một thế
giới siêu h́nh vĩnh cửu đầy cực lạc?
Chẳng hạn, khái niệm
“bồ tát” nguyên thủy là một khái niệm rất
hiện thực, không mang một sắc thái siêu h́nh nào.
Người ta thường gọi thái tử Tất
Đạt Đa sau khi xuất gia và trước khi
đắc đạo thành Phật là một vị Bồ
Tát. Sau khi Ngài đă thành Phật, danh xưng bồ tát
được dành cho những vị sắp đắc
đạo, sắp vượt qua ḍng sông, là người
sắp trở thành một vị la hán hay một vị
phật. Nói chung, bồ tác là người, không phải
thần thánh. Họ cùng chung sống với chúng ta. Họ nh́n
thế giới chung quanh họ như một Tây
Phương Phật trong lúc tầm nh́n của chúng ta có
thể hoàn toàn khác hẳn, khi lên khi xuống khi vui khi
buồn khi thương khi giận. Một ví dụ về
những thế giới chủ quan có thể có của
đa số chúng ta:
Một người đi
với một người
Một người hớn
hở tươi cười không đâu
Cảnh vui lan tận rừng sâu
Người vui cảnh có
buồn đau bao giờ.
Người kia thơ thẩn
thẫn thờ
Màng đêm vây phủ phải
chờ bao lâu
Cảnh buồn lan tận
rừng sâu
Người buồn cảnh có
vui đâu bao giờ.
Tuy những vị bồ tát và
chúng ta có thể bắt tay nhau, nhưng mỗi người
lại nh́n vạn vật bằng những khung trời khác
nhau. Dù vậy họ không bao giờ tự xem ḿnh cao quư
hơn, thuộc giai cấp thượng tầng,
để rồi kỳ thị người khác. Trái
lại họ ḥa ḿnh hợp tác và giúp đở kẻ khác
mà họ luôn luôn xem như đồng loại, v́ họ
hiểu rất sâu sắc rằng giữa họ và
những người khác, tuy hai mà một. Họ tạo cho
mọi người một niềm tin yêu ngay trong cơi
đời này, mắt thấy tai nghe. Thế giới
của những người khác như đang xích lại
gần với thế giới của những vị
bồ tát đó.
Nhưng rồi, theo thăng
trầm của thời gian, những vị bồ tát
cứu khổ cứu nạn, có h́nh hài, có xương có
thịt đó dần dần “bị” siêu h́nh hóa, biến
mất khỏi trần gian. Thế giới của họ
là một Tây Phương Phật xa xôi huyền bí. Niết
Bàn cũng vậy, vô cùng huyền bí. Ḍng tâm thức biến
thành những thứ thiêng liêng có linh hồn. Chúng sanh
muốn t́m hiểu, nhưng câu trả lời rất
gọn nhẹ: Không thể mô tả những huyền bí
đó những thiêng liêng đó bằng ngôn ngữ hay
lời nói. Chúng sanh được giáo hóa rằng muốn
đến được những nơi đó cần
phải tu hành vô số kiếp, phải khấn vái cầu
xin những đấng linh thiêng ra tay pḥ hộ. Nếu
vụng tu hay sống một đời sống vô
đạo th́ bị hăm dọa rằng kiếp sau
sẽ bị đày xuống Địa Ngục, một
nơi huyền bí khác, vô cùng ghê rợn.
Chúng sanh vốn si mê lầm
lạc, nói sao nghe vậy. Cố gắng làm theo lời giáo
hóa. Nhưng đường xa vời vợi, đến
hàng ngàn hàng vạn kiếp, đầy gian nan, lại không
có những bàn tay thiết thực giúp đở như
thời vàng son xa xưa của tiền nhân. Họ ngao ngán.
Họ chán nản. Và đa số bỏ cuộc.
Thật khó tin rằng Phật
Thích Ca chú trọng đến những thế giới siêu
h́nh trong lúc Ngài bác bỏ chủ thuyết về một linh
hồn bất diệt. Khi người ta hỏi Ngài sau cơi
đời này Ngài sẽ đi về đâu, Ngài trả
lời đây là vấn đề không có giá trị thảo
luận. Ngài thường khẳng định lập
đi lập lại rằng quan tâm duy nhất của Ngài
là sự đau khổ của chúng sanh. Ngài đi t́m con
đường giải thoát cho chúng sanh hoàn toàn không nghĩ
đến một phần thưởng nào cho cá nhân ḿnh, dù
phần thưởng đó thuộc vào thế gian này hay
thuộc vào một thế giới siêu h́nh (nếu có) nào
đó. Ngài chỉ biết ḿnh làm những việc cần
phải làm hầu giải thoát sự khổ đau của
chúng sanh. Ngài muốn xây dựng một Tây Phương
Phật ngay trên đia cầu này.
Nhưng tại sao Phật Giáo
bị siêu h́nh hóa? Thật ra Phật Giáo không hề bị
siêu h́nh hóa trong ḷng rất nhiều Phật tử, nhất
là Phật tử ngày nay. Nhưng qua nhiều kinh sách
(được viết từ mấy thế kỷ sau khi
Phật quy tiên và vẫn được lưu truyền cho
đến nay) chúng ta có thể thấy Phật Pháp đă
nhấn mạnh khá nhiều về những cảnh
giới siêu h́nh. Có thể chăng do khoa học c̣n phôi thai?
Có thể chăng khi Phật Giáo lan truyền sang các
nước khác, v́ thường phải t́m cách ăn
khớp với những tín ngưỡng địa
phương, Phật Pháp đă dần dần biến hóa?
Phải chăng có những nhóm muốn siêu h́nh hóa Phật
Giáo với ư đồ thống trị: Xem Phật
chẳng khác nào thượng đế, để rồi
muốn chúng sanh nghe theo mệnh lệnh của ḿnh, chỉ
cần “hù” rằng mệnh lệnh đó là ư của
Phật? Tôi nghĩ đây là một vấn đề quan
trọng cần được nghiên cứu kỹ lưỡng
hơn.
Có kiếp sau tức phải có
linh hồn, hơn nữa linh hồn đó là bất
diệt. Cho dù kiếp sau có biến đổi so với
kiếp trước, chẳng hạn trở thành dốt
hơn hay thông minh hơn, trở thành hung bạo hơn hay
đạo đức hơn, trở thành khác phái, v.v., linh
hồn đó vẫn tồn tại, tồn tại vĩnh
viễn. Rơ ràng Phật không dạy chúng sanh có một linh
hồn như vậy. Phật đă từng dùng những ví
dụ về hậu kiếp trong nhiều bài giảng
của Ngài. Nhưng tôi tin Ngài chỉ xem những ví dụ
đó như những huyền thoại, cần phải dùng
đến khi những người nghe là những
người quá mê tín về luân hồi chuyển thế.
Nếu có ai hỏi Ngài có tin luân hồi không, Ngài sẽ
trả lời – một cách Trung Đạo – rằng
nếu có th́ bài giảng của Ngài vẫn có giá trị
hữu dụng. Nếu có người khư khư
muốn Ngài chỉ trả lời một cách khẳng định
“có” hay “không”, Ngài sẽ nói “những vấn đề siêu
h́nh không có giá trị thảo luận”. Khoa học bây
giờ cũng chỉ có thể trả lời như
thế. Trả lời “chắc chắn có” hoặc
“chắc chắn không” trong lúc chưa thể chứng minh
được một cách khoa học là những câu trả
lời cực đoan.
Tôi xem đĩa DVD vừa
mới mang về nhà, giảng về Kinh Địa
Tạng. Từ đầu đến cuối, tôi chỉ
nghe thấy toàn những h́nh ảnh ghê rợn ở
những vùng núi non âm u ma quái, nơi đó gồm những
người bị đày sau khi ĺa trần. Và khỏi
phải nói, cực h́nh tra tấn th́ triền miên. Sống
mà có tội th́ sau khi chết sẽ bị đày xuống
đó. Chỉ câu nói này cũng đủ hàm ư mỗi
người có một linh hồn và linh hồn đó
tồn tại vĩnh viễn. Điều này hoàn toàn trái
ngược với lời dạy của Phật. Hơn
nữa cuốn phim không nói lên một lời khuyên bảo
nào hết, chỉ nói đến toàn những tra tấn
cực h́nh như là những lời răng đe khủng
bố hăm dọa. Tôi nghĩ những cuốn phim như
thế này chỉ làm cho giới trẻ ngày nay xem Phật
Giáo như là một tôn giáo mê tín dị đoan không hơn
không kém.
Ngày nay đa số đều có
cơ hội cắp sách đến trường. Đa
số đều có những kiến thức khoa học
cơ bản. Mê tín dị đoan vẫn c̣n đó, nhưng
đang trên đà xuống dốc. Bất cứ một lư
thuyết nào khẳng định sự tồn tại
những thế giới siêu h́nh đều có thể bị
họ cho là một lư thuyết mê tín dị đoan. Và tôi tin
rằng nhiều người suy nghĩ như vậy. Tuy
đó là cực đoan nhưng tôi thiển nghĩ đa
số không c̣n thích nghe những hứa hẹn hăo huyền
về những miền cực lạc hay thiên đàng
nữa. Họ chỉ muốn phiền năo lo âu đau
khổ giảm xuống và b́nh yên hạnh phúc vui tươi
tăng lên, không phải cho kiếp sau, mà cho ngay sự
sống hiện tại của họ. Rót vào tai họ
những thế giới siêu h́nh mỹ miều chỉ làm họ
xa dần với Phật Giáo. Linh thiêng hoá và thần thánh hóa
Phật và các vị bồ tát càng làm họ xem Phật Giáo
như một đạo thần quyền, điều mà
Phật Thích Ca luôn luôn bác bỏ.
Einstein từng nói “Một tôn giáo
thiếu khoa học là một tôn giáo què quặt.” Một tôn
giáo chỉ đáng tin cậy khi tôn giáo đó không những
bao trùm toàn bộ khoa học hiện tại mà c̣n bao trùm
cả những phát triển khoa học trong tương lai.
Tương lai th́ chưa đến. Chúng ta chưa thấy
được những phát triển khoa học sẽ
đến. Làm sao để có thể chọn một tôn
giáo đáng tin cậy? Phật Giáo quả thật là một
tôn giáo đáng tin cậy. Phật có bảo chúng ta rằng
những lời dạy của Ngài không phải là những
giáo điều bất di bất dịch. Phải biết
áp dụng đúng từng hoàn cảnh thời gian và không
gian chính là lời dạy của Ngài. Những niềm tin
hoàn toàn trái ngược với khoa học cần phải
hũy bỏ. Những niềm tin mà khoa học đang dè
dặt cần được nghiên cứu kỹ lưỡng
ăn khớp với những bước tiến của
khoa học. Chỉ cần Phật Giáo đi những
bước đường như thế th́ Phật Giáo
sẽ luôn luôn là một tôn giáo đáng tin cậy nhất.
7. Niềm hy vọng
Bị ám ảnh bởi những
cái thế giới siêu h́nh huyền bí, con người luôn
luôn cố gắng t́m hiểu. Bây giờ họ có máy
truyền thanh truyền h́nh, máy vi tính, internet, v.v. Hẳn
người thời xưa xem những thứ đó như
huyền bí. Thế giới bây giờ là huyền bí của
thế giới ngày xưa. Muốn dùng ngôn ngữ
để diễn tả thế giới ngày nay hẳn không
khó. Họ bắt đầu quen dần với hai chữ
huyền bí, nhưng họ tin rằng huyền bí vẫn là
những thứ có thể dùng ngôn ngữ để diễn
tả. Nhưng họ vẫn không thể h́nh dung ra
những cái thế giới siêu h́nh mà người ta đă
giáo huấn họ. Phải chăng thế giới siêu h́nh
đó chẳng qua là tương lai của thế giới
chúng ta ngày nay? Họ nghĩ đến vũ trụ
với hàng tỷ thiên hà, và mỗi thiên hà có hàng tỷ
những v́ sao. Hẳn phải có rất nhiều thái
dương hệ na ná thái dương hệ của chúng
ta. Và có thể có nhiều thái dương hệ như
thế có chấp chứa sự sống. Những sự sống
đó có giống sự sống trên địa cầu không?
Văn minh hơn? Lạc hậu hơn? Phải chăng
những thế giới siêu h́nh nói trên có thể là những
thế giới xa xôi trên các thái dương hệ đó?
Tất nhiên họ không trả lời được.
Nhưng chính những bế
tắc này đă phấn chấn họ. Họ nhớ
đến h́nh ảnh Phật Thích Ca ngày xưa v́ theo con
đường tu khổ hạnh mà đă kiệt sức
suưt bỏ mạng. Nhờ đó Ngài đă khám phá ra Trung
Đạo và đă tu thành Phật. Đối với chúng
sanh bây giờ, chính sự ngờ vực về cái thế
giới siêu h́nh huyền bí kia đă thúc dục họ
đổi hướng đi trở lại: Xây dựng
một Tây Phương Phật ngay trên địa cầu
này trước đă.
Chúng ta không ngạc nhiên thấy
Phật Giáo đă biến đổi những bước
nhảy vọt trong nhiều thập niên vừa qua.
Nhiều hội nghị Phật Giáo đă được
tổ chức tại nhiều nơi trên thế giới,
thảo luận về hướng đi của Phật
Giáo ngày nay. Những phong trào Phật Giáo nhập thế, Tân
Phật Giáo được xem là những bước tiến
của Phật Giáo mà trọng tâm là sự sống hiện
tại trên địa cầu. Tất nhiên, mù quáng chấp
nhận những phong trào này hoặc nhắm mắt bác
bỏ chúng một cách thiếu suy xét là những cực
đoan. Chúng ta phải xem xét kỹ lưỡng để
hội nhập những điểm tốt đẹp và
để tránh những điểm không có lợi cho
Phật Giáo. Hội nghị quốc tế sắp
được tổ chức tại viện nghiên cứu
Phật học, thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam,
sẽ là một cơ hội để Phật Giáo thế
giới tham gia đóng góp ư kiến về đường
lối đối phó và đóng góp của Phật Giáo trước
những thách thức nóng bỏng của thời
đại như nạn gia tăng dân số thế
giới, nạn khủng bố, quan hệ giữa các tôn
giáo, các bệnh dịch thời đại như dịch
cúm gà, hiệu ứng nhà xanh, vấn đề dân chủ và
nhân quyền, vấn đề truyền thông trong thời
đại mới, vấn đề toàn cầu hóa, v.v.
Đối với Phật Giáo
Việt Nam, cần t́m những hướng đi và
phương pháp giáo dục hữu hiệu để
đóng góp cho thế giới, cho văn hóa dân tộc, cho
thế hệ trẻ rường cột của
nước nhà, v.v.
Hy vọng trong một
tương lai gần, thế giới chúng ta sẽ tràn
đầy những vị bồ tát đúng với ư
nghĩa nguyên thủy của nó. Phật sẽ mỉm
cười thấy công lao của Ngài không bị hoang phí.
Phật muốn biến sự
sống trên thế gian này không c̣n tham sân si, không c̣n gia
cấp, không c̣n hận thù chém giết. Thế giới này
phải là một thế giới vị tha, giúp đỡ
lẫn nhau, tương thân tương ái. Thế giới
này phải là chân thiện mỹ, phải là niết bàn.
Những câu hỏi, chẳng hạn, anh thuộc giai
cấp nào, anh thuộc tôn giáo nào, anh là người
nước nào, v.v., sẽ trở nên không c̣n ư nghĩa trong
khung trời niết bàn đó.
Nhưng từ đây tới
đó đường c̣n dài thật dài. Thế giới
hiện tại của chúng ta là một thế giới
đa h́nh đa dạng, tốt xấu có đủ.
Liệu Phật Giáo có thể giúp chúng sanh thu ngắn
thời gian để biến chốn hồng trần này
thành một niết bàn không? Quả đây là điều
không tưởng. Tham lam vẫn c̣n đó. Hận thù vẫn
c̣n đó. Hiếp bức vẫn c̣n đó. Ranh giới tôn
giáo và ranh giới quốc gia vẫn c̣n đó. Phải
cần thời gian. Và vào mỗi giây phút trong khoảng
thời gian đó, Phật Giáo càng có những nhạy bén
để có thể bước vững vàng trên Trung
Đạo.
Thế giới hiện tại
là một thế giới đa dạng. Chúng ta không thể
không chấp nhận những ranh giới tôn giáo cũng
như những ranh giới quốc gia. Và Phật Giáo có
trách nhiệm biến đổi những hận thù
cạnh tranh giành giựt chém giết chiến tranh giữa
tôn giáo và tôn giáo, giữa quốc gia và quốc gia thành
những hợp tác tương thân tương trợ
thương yêu và tôn trọng lẫn nhau. Nhiệm vụ
của Phật Giáo là thuyết phục những
nước văn minh giàu có giúp đở tương
trợ những nước nghèo khó chậm tiến trong
những lĩnh vực kinh tế tài chánh, khoa học
kỹ thuật và y tế. Phật Giáo phải tạo
điều kiện tốt trao đổi học tập
văn hoá phong tục tập quán lẫn nhau để
hiểu nhau hơn và từ đó tôn trọng lẫn nhau
hơn. Đó chỉ là một vài ví dụ trong rất
nhiều nhiệm vụ quốc tế khác mà Phật Giáo
phải đương đầu. Phải đối phó
như thế nào trước sự kỳ thị chủng
tộc, kỳ thị tôn giáo, trước chiến tranh cá
lớn nuốt cá bé, chiến tranh khủng bố, …
Tất nhiên con đường
Phật Giáo đi là Trung Đạo. Mọi vấn
đề Phật Giáo phải đương đầu
đều phải phù hợp với Trung Đạo.
Phật Giáo chủ ḥa bất bạo động. Phật
Giáo không bao giờ là một đe dọa của bất
cứ một quốc gia nào. Đây là một điều
thuận lợi để Phật Giáo có thể tiếp xúc
với tất cả những phe đối nghịch trong
mọi cuộc xung đột. Phật Giáo không tin vào
thần quyền, cuồng tín, mê tín dị đoan:
Thần quyền cuồng tín
dị đoan
Chỉ đưa nhân loại
đến ngàn vực sâu.
Trong mỗi quốc gia, Phật
Giáo và chính quyền không thể không có quan hệ lẫn
nhau. Bảo rằng Phật Giáo có thể tồn tại
độc lập với chính quyền là một
điều thiếu thực tế. Nếu được
sự ủng hộ của chính quyền, việc hoằng
pháp sẽ thuận tiện gấp bội lần. Tôi có xem
cuốn phim tài liệu về việc trùng tu chùa Thánh Duyên
ở Huế. Mối quan hệ hài ḥa giữa chính quyền
địa phương và Giáo Hội Phật Giáo Việt
Nam Tỉnh hội Thừa Thiên Huế đă tạo
thuận lợi cho việc trùng tu được thành công
mỹ măn. Có thể nói đây là một dấu hiệu
tốt cho Phật Giáo Việt
Tuy nhiên nếu Phật Giáo
trở thành một con cờ bù nh́n của chính quyền th́
chính Phật Giáo sẽ khó có thể bước vững trên
Trung Đạo, đừng nói chi việc d́u dắt chúng
sanh giải thoát khổ đau. Để tránh điều
này, Phật Giáo cần có một đội ngũ gồm
những vị bồ tát “sống” với đầy
đủ từ bi trí huệ để có thể góp ư chính
quyền trong việc trị quốc an dân, ngăn cản
chính quyền thi hành những chính sách có thể nguy hại
cho tổ quốc, cho dân tộc. Đồng thời
cần bày tỏ thái độ cứng rắn trước
những tệ nạn như tham ô bạo quyền bất
công. Được như vậy Phật Giáo mới có
thể đưa dân tộc Việt
Đối với những chính
sách của chính quyền có liên hệ đến chết
chóc như án tử h́nh, và quan trọng nhất là khi
đất nước bị đe dọa chiến tranh xâm
lăng, thái độ của Phật Giáo phải như
thế nào? Buôn lậu á phiện th́ có thể tử h́nh.
Phật Giáo nghĩ sao khi biết rằng á phiện đă
làm biết bao nhiêu người trở nên nghiện ngập
tan cửa nát nhà và chết chóc? Tuy Phật Giáo chủ
trương không sát sanh, nhưng phải chăng tội
tử h́nh luôn luôn là sai trái? Việt
Án tử h́nh hay chiến tranh
chống ngoại xâm, tất cả đều tùy thuộc
vào nhiều yếu tố, kể cả không gian và thời
gian. Không thể có những sách kế bất di bất
dịch như những giáo điều không bao giờ thay
đổi. Nếu phải giết một người
để cứu hàng trăm hàng ngàn người, Phật
Giáo nghĩ sao? Nếu bị ngoại xâm, Phật Giáo
phải làm sao để có thể duy tŕ ḥa b́nh đất
nước? Phải chăng Phật Giáo sẽ không bao
giờ sát sanh dù trong bất cứ t́nh huống nào? Nếu
vậy phải chăng chủ thuyết “không sát sanh” đă
trở thành một giáo điều bất di bất
dịch? Tôi cho rằng những vấn đề này
cần được thảo luận kỹ lưỡng.
Có được quan hệ
tốt với chính quyền quả thật không dễ.
Hoằng pháp để cứu vớt chúng sanh lại là
một nhiệm vụ c̣n khó khăn hơn. Trong việc
truyền Pháp, Phật Giáo phải đương đầu
với vấn đề đạo đức. Xă hội
hiện tại quả thật có quá nhiều tệ
nạn. Trong một xă hội tiêu thụ như hiện nay,
dường như mọi thứ t́nh cảm đều
được đánh giá trên tiền bạc. Hành hung
cướp giật xảy ra gần như cơm bữa.
Rồi nạn nghiện ngập ma túy. Phật Giáo cần
t́m những phương thức hữu hiệu để
đối phó với những tệ nạn đó.
Cuối cùng, để kết
thúc bài này, tôi xin vắn tắt đóng góp hai điểm
về việc dịch kinh sách và việc trang trí chùa
chiền tại Việt Nam, hầu giúp người
Việt hiểu nhiều hơn và tự hào hơn về
Phật Giáo Việt Nam.
Trong mấy quyển sách biếu
không hôm tôi đi dạo phố, có một vài quyển Kinh.
Đọc những quyển Kinh đó quả thật
rất khó khăn đối với tôi. Dường như
hầu hết những từ ngữ đều
được phiên âm thay v́ dịch từ chữ Hán. Tôi
không có vốn liếng chữ Hán. Và tôi tin rằng ngày nay
đa số người Việt cũng đều như
tôi. Tôi đă đọc nhiều kinh kệ dịch từ
ngôn ngữ Pali hay Sanskrit sang tiếng Anh. Rất nhiều
dịch giả vẫn than phiền rằng thật không
dễ dàng tí nào trong việc dịch Kinh. Có nhiều từ
của ngôn ngữ này không dễ ǵ t́m được
từ hoàn toàn tương đương trong ngôn ngữ
kia. Hẳn các dịch giả Việt Nam cũng đă
từng thấm thía những khó khăn này, nhất là khi
phải dịch Kinh. Nhưng theo tôi, cuối cùng các dịch
giả phải làm điều đó. Phải dịch, không
thể chỉ phiên âm. Nói chung, cần phải phổ thông
hóa kinh sách. Được như thế, người
đọc sẽ dễ hiểu hơn, do đó hứng thú
hơn, và Kinh Phật sẽ được phổ biến
rộng răi và nhanh chóng hơn.
Đối với các chùa,
dường như chỉ có tên chùa là được
viết bằng tiếng Việt, c̣n hầu hết các
thứ khác, như các bức hoành, các câu đối câu liễn,
viết toàn chữ Tàu. B́nh dân bá tánh đi ngang chùa nh́n vào,
họ chỉ thấy nhưng không hiểu. Họ đành
tiếp tục bước đi. Cửa chùa th́ mở
rộng mà họ thấy như đang đóng kín. Việt
Nam thoát ách đô hộ của Tàu đă lâu. Tiếng
Việt cũng đă được phổ thông hóa từ
lâu. Nhưng những ngôi chùa vẫn như thời xa
xưa, vẫn giống như chùa Tàu trên đất
Việt. Theo tôi, phải Việt Nam hóa những ngôi chùa
Việt Nam! Những ngôi chùa xây trong tương lai phải
100% Việt Nam. Nếu phải dùng những ngôn ngữ khác
th́ đó chỉ là phụ, chỉ để giúp du khách
nước ngoài t́m hiểu mà thôi. Chùa Việt phải dùng
tiếng Việt cho dân Việt. Tất nhiên có những ngôi
chùa xây dựng từ xa xưa, nổi tiếng và đă
trở thành lịch sử, cần được giữ
nguyên vẹn những di tích lịch sử quư giá đó.
Phật Giáo đă đến
với Việt Nam 2000 năm nay. Chắc chắn ai cũng
mong muốn kho tàng văn hóa Phật Giáo Việt Nam
được phổ biến rộng răi trong ḷng mỗi
người dân Việt.
Sách tham khảo:
- Majjhima Nikaya, translated by bhikkhus
Nanamoli & Bodhi, The Middle Length Discourses of The Buddha, Wisdom
Publications, USA, 1995
- Digha Nikaya, translated by Maurice Walshe, The Long Discourses of The
Buddha, Wisdom Publications, USA, 1995
- Brazier, D., The New Buddhism, Constable & Robinson, London, 2001
- Brazier, D., The Feeling Buddha, Constable & Robinson, London, 2001
- Silver, B. L., The Ascent of Science, Oxford University Press, New York, 1998
- Capra, F., The Turning Point, Simon & Schuster, New York, 1982
- Capra, F., The Web of Life, Flamingo, London, 1997
TS. Tâm
Đàn