VAI TR̉ CƯ
SĨ
TRƯỚC TIỀN
ĐỒ PHẬT GIÁO VIỆT
Thích Quán Thông
Gần
đây, có nhiều bài phổ biến trên các tạp chí,
trên mạng, trên mọi phương tiện truyền thông,
đề cập đến hiện trạng suy
đồi trong hàng tăng lữ, về giá trị học
thuật ngọai điển, về mảnh bằng
của đời nâng cấp địa vị trong
đạo, v.v. Thật ra trạng huống suy đồi
thời nào cũng có, ngay cả lúc Phât c̣n tại thế;
vấn đề là tại sao chỉ trách cứ hàng
tăng lữ mà không ai nhắc đến vai tṛ của
đoàn thể cư sĩ tại gia trong trạng huống
suy đồi đó.
Lời dạy cuối cùng
trước khi đức Phật Thích Ca nhập
Đại Bát Niết Bàn là: "Các ngươi hăy
lấy giới luật làm Thầy" (Vinayo Sasanassa
Ayu – The Rule is the Life of the Teaching). Trải qua hơn hai ngàn
năm trăm năm, lời dạy này vẫn c̣n là
mạng mạch của Phật Pháp, bất kỳ ở
thời gian hay không gian nào. Giới luật có
hai phần, phần cụ túc giới dành cho tăng lữ
xuất gia, và phần căn bản năm giới cho
cư sĩ tại gia. Qua thời gian, Phật Pháp phát
triển và tồn tại đều nương vào hai
yếu tố: tăng lữ và cư sĩ; hai thành phần
này (hay đúng ra là bốn, tức tứ chúng: tăng
lữ gồm tỳ kheo và tỳ kheo ni, cư sĩ gồm
ưu bà tắc và ưu bà di) luôn luôn hổ trợ nhau,
như cá với nước, không thể nào tách rời nhau
được. Lư do giản dị và thực tiễn là
tăng lữ nương nơi cư sĩ phần
vật chất như tứ sự cúng dường, c̣n
cư sĩ nhờ vào tăng lữ trong những sinh
hoạt tâm linh như học Phật, tu tập, cầu siêu
cầu an, v.v., từ đó Phật giáo mới tồn tại.
Tăng lữ như cá sống trong nước cư
sĩ; không có nước, cá không sống được.
Truyền thống Nam
phương Phật giáo hiện nay phần lớn vẫn
giữ nguyên t́nh trạng hỗ tương liên hệ
đó: một vị tăng trước khi xuất gia,
phải t́m một gia đ́nh cư sĩ bảo trợ cho
phần tứ sự, trong khi đó cư sĩ vào những
ngày lễ th́ đến chùa hay tự viện, để
nghe pháp, tu học, và phát nguyện thọ giới cư
sĩ lần nữa. Tại các nước Phật giáo
nguyên thủy, chư tăng ở vùng xa
phố thị kinh đô vẫn c̣n tŕ bát khất thực,
không ăn sau giờ ngọ và dành nhiều th́ giờ
để thiền định. Trong khi đó, lúc Phật Pháp
truyền vào Trung hoa, là nước có một nền văn
minh hoàn toàn khác hẳn với văn minh Ấn độ,
đă phải trải qua rất nhiều thay đổi
lớn trong căn bản để có thể hội
nhập giao lưu với hai ḍng tư tưởng bổn
địa là Đạo giáo và Khổng giáo, cuối cùng phát
triển tư tưởng Đại thừa (Bắc
phương) Phật giáo đến cực điểm.
Nhưng dù có thay đổi tư tưởng căn
bản, lời dạy của Đức Phật
"lấy giới luật làm Thầy" vẫn không thay
đổi. Do đó, trong lịch sử hoằng bá Phật
Pháp, lúc nào một vị tăng có đạo cao có
đức trọng cũng đều được các
bậc vua chúa hay hàng vương giả trí thức, tôn bái
làm Thầy, quy hướng theo và bảo trợ để
dễ dàng xiển dương chính pháp. Rồi
cũng trong tiến tŕnh bảo trợ từ hàng cư
sĩ vương giả đó, nảy sinh ra nhiều
tệ đoan, kết thành những chống đối,
mănh liệt đến độ hủy diệt Phật
giáo.
Trong lịch sử truyền bá
vào Trung hoa, Phật giáo đă phải trải qua ba
lần pháp nạn lớn, gọi là thời Phế
Phật: (1) Thời Bắc Ngụy Thái Vơ Đế
(tại vị 424-451), phế Phật, có đến 1300 chùa
bị tàn hủy mà về sau, Dương Huyễn Chi,
cảm khái về những ngôi tự viện do Vương
tôn quư tộc xây dựng bị bỏ hoang phế, đă
viết nên Lạc Dương Ǵa Lam Kư vào năm 547; (2)
Thời Bắc Châu Vơ Đế (tại vị 560-578),
lại phế Phật lần nữa; số lượng
ba triệu tăng ni bị hoàn tục, và 40 ngàn ngôi chùa
bị đập phá tiêu hủy có lẽ bị Phí
Trường Pḥng trong Lịch đại Tam bảo kư
thổi phồng lên con số thập bội, nhưng
đă nói lên t́nh trạng tệ hại như thế nào; và
(3) Nhưng ảnh hưởng tiêu cực nhất là
thời Hội Xương năm 845, dưới
triều Đường Vơ tông, Phật giáo lại bị
phế lần nữa, khi đó 4 ngàn 6 trăm tự
viện bị hủy, hơn 260 ngàn tăng ni bị hoàn tục,
tất cả kinh điển (khi đó c̣n chép tay)
đều bị thiêu đốt, 40 ngàn đền chùa
bị tàn phá, hàng triệu mẫu đất ph́ nhiêu do các
vua đời trước phong cấp cho tăng đoàn
bị sung công, 150 ngàn nô dịch (ngày nay gọi là công
quả) chuyển làm nô lệ nơi khác, v.v. Lần này
nạn phế Phật bị ảnh hưởng trầm
trọng đến độ chỉ hơn một năm
sau, khi Huyền tông kế vị và sắc lệnh cho
phục hoạt Phật giáo, th́ các tông phái lớn như Hoa
Nghiêm, Pháp Hoa, Tam Luận ... hầu như tan ră hoàn toàn,
chỉ có Thiền và Tịnh độ tông là có cơ ngơi
khởi sắc thêm. Phật giáo Trung hoa từ
đó dậm chân tại chỗ, không phát sinh thêm tư
tưởng ǵ mới, để rồi dần dần
hội nhập vào tư tưởng tam giáo đồng
nguyên. Phật giáo bắt đầu quần chúng hóa,
và một phó sản tiêu cực của nó là vai tṛ của
tăng lữ được thần thánh hóa, như là
những nhà phù thủy có thế lực thần quyền
trừ tai giải nạn cho b́nh dân bá
tính.
Tại Tích Lan và Ấn
độ, vào thế kỷ 11, Hồi giáo nổi
dậy quét sạch Phật giáo đến nỗi khi
phục hoạt lại, th́ Ni bộ không đủ số
lượng để tiếp thừa tỳ-kheo ni giới;
cho măi đến ngày nay, một ngàn năm sau, vẫn
chỉ c̣n có những tu nữ giữ 8 giới mà thôi, không
có ni bộ theo đúng nghĩa của nó. Một trong
những lư do gây ra những Pháp nạn như trên là trong
thời cực thịnh, sản sinh nhiều thành phần
thối nát trong tăng già, nhất là những tay hoạt giáo không nghiêm tŕ giới luật,
gây nhiều hủ hoại. Như tại Tích Lan, ni chúng
được cung đ́nh tôn trọng đến sinh ra
những xa xỉ tiêu hao công quỹ, ḷng dân ca thán, nên khi
Hồi giáo nổi dậy, càn quét thảm sát toàn bộ ni
chúng đến nỗi không c̣n được một
số lượng nhỏ nhoi tam sư thất chứng
để mà phục hoạt ni bộ.
Phật giáo Việt nam may mắn không gặp những
nạn phế Phật như thế, nhưng biến
cố 1963, phần tích cực dĩ nhiên nhưng yếu
tố tiêu cực cũng không thiếu, đă khiến cho
một số tăng lữ bị chóa mắt trước
hào quang chói lọi giả tạm của một cuộc
cách mạng không đổ máu cho nên đạo đức
nền tảng bị băng hoại, kéo dài cho đến
ngày nay. Công cuộc chấn hưng Phật giáo trong
những thập niên 20-30 do các tôn đức cử
xướng đă bị những cái ngă cá nhân chà
đạp, c̣n lại chỉ là những cái vỏ bóng
lưởng, mang danh giáo hội thống nhất này nọ
mà ngay sau khi thành lập th́ đă có đổ vỡ tách ĺa
rồi. Khi nhà học giả uyên thâm Mai Thọ Truyền
cương quyết giữ vai tṛ Ủy viên Cư
sĩ vụ, th́ một vị đại thượng
tọa nói thẳng: "Ông giữ vụ Cư sĩ th́
chúng tôi (tăng đoàn) c̣n ai đâu để làm
việc?" Thế là hội Phật học Nam Việt
rút lui, để dành vụ Cư sĩ
cho một vị tăng lớn lănh đạo. Có phải chăng từ đó mà cư sĩ
phải quy phục nơi tăng lữ, thần thánh hóa
những con người bằng xương bằng
thịt đầy đủ thất t́nh lục dục
như là một thứ quyền năng phù thuật?
Cho nên những bài viết nói
về t́nh trạng suy đồi trong tăng lữ
hiện đại, tại quốc nội cũng như
hải ngọai, cũng không phải là vấn đề
mới mẻ. Duy một điều là các vấn
đề đặt ra đều xoay quanh hành hoạt
của tăng lữ, phần lớn do một số
cư sĩ than thở viết ra, nhưng hầu như
chưa thấy ai nêu lên vấn đề vai tṛ và trách nhiệm
của cư sĩ trong tiến tŕnh hộ pháp hộ
tăng. Thành phần cư sĩ ư thức th́ thở than khi
tăng lữ suy đồi, thành phần cư sĩ
dễ tin, nhất là dễ sợ - sợ phạm tội –
th́ mù quáng chiều chuộng theo những dục vọng
của nhóm tăng lữ hủ bại.
Ở vào thập
niên 60, thế kỷ 20, chỉ có một ít du học
tăng được du học Ấn Độ. Và HT Minh Châu là người
được mời về làm Viện Trưởng
Viện Đại Học Vạn Hạnh, một viện
đại học đầu tiên và có lẽ sẽ là duy
nhất của nước Việt Nam cận đại. Sự nghiệp chính trị của HT, nếu có,
hăy để lịch sử phán xét. Ít
nhất ra, HT cũng đă phiên dịch toàn bộ Kinh
Điển Nam tông (Pali) ra Việt ngữ
rồi. Điều đó hiển nhiên và
lịch sử văn học Phật giáo Việt nam sẽ
ghi ơn ngài. Có thể câu di ngôn ngài để lại
đời sau là: "Ai làm chính trị th́ cứ làm, tôi
chỉ lo làm văn hóa và giáo dục", nên được
tăng lữ ghi xương khắc cốt. Làm văn hóa
và giáo dục dĩ nhiên phải có một kiến thức
căn bản và chuyên môn, cho nên hiện tượng có
hơn hai trăm tăng ni đang du học tại Ấn
độ ngày nay là một điều đáng mừng cho
tiền đồ Phật giáo, thế nhưng, lại có
một học tăng đă lớn tiếng tuyên bố:
"Không cần biết Hán văn, chỉ cần giỏi
Phạn ngữ và Ba li là đủ, Hán học không cần
thiết". Quả là tiếng kêu hơi ngông của con ếch
c̣n ngồi đáy giếng. Ngay cả đến HT Minh Châu,
khi phiên dịch Đại tạng Ba li sang Việt ngữ
mà c̣n phải tham khảo với các bản Hán, Anh
để bản dịch của ngài được hoàn
chỉnh.
C̣n những người
đồng đại với HT cũng chỉ đếm
trên đầu ngón tay, như cố HT Huyền Vi, lập
được giáo hội Linh Sơn “toàn cầu” và
để lại nhiều băng giảng cho hậu
thế; HT Măn Giác là Hội chủ một Tổng hội
với nhiều chùa Việt Nam trên đất Mỹ; HT Pháp
Nhẫn cũng là viện trưởng một ngôi chùa
lớn ở Texas; thế hệ đàn em th́ có cố HT
Thiện Thanh trụ tŕ chùa Phật Tổ, cố HT
Đức Niệm với Viện Phật học Quốc
Tế chuyên in lại ṭan thể các kinh tụng
trước năm 1975, hoặc HT Tịnh Hạnh hiện
đang cố sức hoàn thành bộ Đại Tạng
bằng Việt ngữ , v.v.. Tất cả,
với những mănh bằng tiến sĩ mang từ
ngọai quốc về để thực hiện nên
những công tŕnh đó, đều cũng không thể
bỏ qua sự cúng dường của hàng cư sĩ.
Du học Nhật Bản cũng
rất nhiều, nhưng đạt được
bằng tiến sĩ của một đại học
lớn của Nhật cho đến ngày nay cũng
đếm chưa đủ mấy ngón trên một bàn tay. Hệ thống đại
học Nhật cũng như Mỹ, Anh, Úc, Pháp, là không
phải cứ đạt được mảnh bằng
th́ có thể kiếm nồi cơm sinh nhai. Mà lúc nào
cũng phải nghiên cứu, cũng phải sáng tác, cũng
phải viết lách, cũng phải có bài tham dự hội
thảo, v.v. mới có thể duy tŕ được một
chút khả tín về thực học, bằng không phải
chịu luật đào thải của thời gian và
tiến bộ của học thuật.
Rất tán thành câu nói của
Đại đức TNT: "Măng vẫn thường
xuyên mọc bên cạnh các cụm tre già" (Giao
Điểm 59, tr. 41-45). Dĩ nhiên tre đă già măng đă
mọc, đă là tre xanh, nhưng chúng ta sẽ làm ǵ với
con số hơn hai trăm học tăng (ni) đó, một
khi trong ṿng mười năm trở lại thôi, họ
sẽ mang những cấp bằng đó về
nước? Đại học Phật giáo
đâu để có chỗ cho họ dạy?
Đại học nhà nước th́ chưa mời tăng
giới. Đại học ngoại quốc,
ngay cả tại Ấn độ nơi đào tạo
họ đi chăng nữa, có chấp nhận giá trị
của những mảnh bằng đó hay không, để
bổ nhiệm họ vào những ghế trống của
trường? Anh văn tuy cần thiết nhưng
khộng phải là quan trọng, đó chỉ là một
phương tiện truyền thông, hay truyền đạt
tư tưởng mà thôi. Ngay cả giáo sư
Lê Mạnh Thát, một nhà Phật học tài ba lỗi
lạc, cũng chỉ viết bằng tiếng Việt
để làm giàu cho văn hóa Phật giáo tiếng Việt
mà thôi. Những khám phá mới lạ
của tiến sĩ, đă được giới học
giả ngọai quốc nào chú ư đến chưa? Ở thế kỷ 21, dĩ nhiên kiến thức
ngọai điển là rất cần thiết nhưng
phải biết phối hợp kiến thức đó
với nếp sống tu hành của đạo.
Được du học ngọai quốc, làm luận án
trầy vi tróc vảy 5, 7 năm trời, là một ân
huệ, do cư sĩ bảo trợ, không phải là
một vinh dự để vị tăng ni đó sinh tâm
kiêu hănh, ngạo mạn.
Đó là chưa nói đến
một số Tăng Ni từ Việt nam qua Mỹ theo
diện du lịch, xin ở lại nói là để học
nhưng đa số đi “làm chùa” riêng, ở những
vùng không cần thiết, để hưởng nhàn. Số
Tăng Ni khác sau vài năm kham khổ không nổi tại
Ấn độ cũng chạy sang Mỹ, mượn
tiếng là đi t́m tài liệu, rồi t́m cách định
cư bất hợp pháp luôn và nhiều vị cũng đi
“làm chùa” lung tung tiêu hao của đàn na thí chủ. Những người đó rồi sẽ đóng
góp được ǵ cho Phật giáo Việt nam, khi bản
thân họ đang chỉ biết thụ hưởng
những kỷ thuật tân tiến nhất của thế
kỷ 21? Mỗi người một cái laptop (không
phải để lôi từ trên mạng xuống những
bài vở có giá trị giúp ích cho sở học), một cái
cell phone (không phải để liên lạc cùng thiện tri
thức), một chiếc xe bóng nhoáng
(không phải để đi làm Phật sự)?
Nêu lên câu hỏi trên, chúng ta
chỉ trở lại câu hỏi lần nữa:
"những kiến thức ngoại điển đó, có
giúp ích ǵ được cho cuộc sống nội tâm
của một tăng sĩ, trên đường t́m
giải thoát hay không? Hay là mang h́nh thức mới, mang
đạo vào đời, cư trần lạc
đạo?"
Cho nên, tất cả giáo tŕnh
đào tạo tăng tài cho Phật giáo Việt nam cần
phải đặt lại, đối tượng là
một tu sĩ Phật giáo (tăng hay ni), không những
phải thâm đạt một bộ môn nào đó trong
Phật học (nội điển), mà c̣n phải học qua các bộ môn khác thực
tiển trước xă hội: như tâm lư học, xă
hội học, v.v.
Bài "Đề nghị
một giáo tŕnh tu học..." của Phật Điển
Hành Tư chỉ là một bộ môn Lịch sử trong toàn
thể văn học Phật giáo đa dạng và sung măn;
bài tuy rất hạn cuộc nhưng cũng vẫn bị
những vị thẩm quyền lập giáo tŕnh bác bỏ
v́ trên thực tế, Phật giáo không có đủ nhân
sự để thực thi đề nghị eo hẹp
đó. Đề nghị này cũng không
mới mẻ ǵ, v́ trước đó rất lâu, cố HT
Thích Trí Thủ cũng đă mang ưu tư viết thành
hoài băo rồi. Bài "Thử vạch một quy
chế cho Tăng sĩ và một chương tŕnh đào
tạo Tăng sinh thích ứng với nhu cầu của giáo
hội trong hiện tại và tương lại
gần" của ngài (đăng trong Toàn tập Tâm
Như Trí Thủ, quyển I, các trang 678-697), bao
quát nhiều vấn đề và bộ môn hơn, có thể
tóm lược theo bản trang 685 như sau:
1. Trụ Tŕ Tăng: lănh
đạo một tự viện;
2. Công đức tăng: Củng cố thực chất (tu
tŕ, niệm Phật, ngồi thiền...): Kiện nội;
3. Thiệp thế tăng: Kéo đời vào đạo: Hóa
ngoại, giảng pháp
4. Giáo huấn tăng: Đem Đạo vào đời:
Văn hóa Giáo dục;
5. Nhiếp hóa tăng: Tích cực nhập thế: công tác xă
hội.
Mỗi ngành cần
có một hội đồng quản trị của ngành
về mặt chuyên môn. Tại v́ một vị tăng dù tài cao học
rộng đến đâu cũng không thể nào bao quát
hết mọi phương diện của Phật pháp. Có thể nói, đề nghị này của ngài
đă được Phật giáo Tây Tạng tích cực
thực thi rồi. Trong thập niên Pháp nạn 1950, sau
khi vượt biên đến Ấn độ và
được cho một khu đất hoang tàn nay
được biết đến là Dharamsala, Phật giáo
Tây Tạng đă biết dĩ tịnh chế động,
biết âm thầm đào luyện tăng tài trong ṿng
thập niên 60: những người có thế trí biện
thông, biện tài vô ngại, th́ chuyên luyện về
thuyết giảng (thiệp thế tăng), những
vị muốn nghiên cứu hay dịch kinh th́ có nơi
để ngồi yên mà viết lách dịch kinh thuật
(giáo huấn tăng) – hiện nay 2 bộ đại
tạng Kanjur và Tanjur của Tây Tạng đă
được phiên dịch toàn bộ sang Anh văn, hơn
20 năm qua. Nhưng có một số có lẽ cũng không
ít công đức tăng, vô danh, đang lặng lẽ
thiền định trong những nơi hoang vắng,
trên đỉnh Tuyết sơn, trong những chùa làng đèo
heo hút gió, để làm ṇng cốt thực chất cho
những thiệp thế tăng ngoài kia. Những thiệp
thế tăng thành công một phần nhờ vào tri
thức căn bản về Phật học, nhờ
biện tài vô ngại, nhưng phần lớn là nhờ vào
đạo đức trang nghiêm, hành tŕ cẩn mật,
nhờ chất lượng ṇng cốt từ những công
đức tăng kia. Số lượng Phật tử bên
ngoài Tây Tạng quá ít, tăng đoàn chỉ nhắm
đến người Tây phương và đă thành công có
thể nói là rực rỡ, qua h́nh ảnh của một
đức Đạt lai Lạt ma, được
trọng vọng như một giáo hoàng của Phật giáo
toàn cầu, ngoài điều mà ngài đă được
xưng danh là đức Phật sống. Phật giáo
Việt nam, có lịch sử trải dài hơn hai ngàn
năm, có được một vị được
đề nghị giải Nobel Ḥa b́nh và một vị
cứ được các lực lượng chính trị
của một bộ phận Việt kiều hải
ngoại hứa cuội là sẽ được, trong nay
mai!
Quá tŕnh lịch sử cho
thấy, chính cư sĩ mới là thành phần ṇng cốt
trong sự phát triển Phật giáo, cho nên mới có câu:
"Phật Pháp bất ly thế gian pháp". Có phải
chăng chính trong tinh thần đó mà thái độ
"cư trần lạc đạo" của Trần
Nhân Tông đă sống động trong thời hưng
thịnh Lư-Trần? Và cũng với tư tưởng
đó mà hiện tại có rất nhiều vị tăng
trẻ hăm hở t́nh nguyện làm thiệp thế
tăng, mang đạo vào đời, hay đang tự
để cho đời làm hoen áo đạo. Tại
hải ngoại, hiện tượng mỗi thầy
một chùa, ai có giọng tụng kinh hay, hoặc tổ
chức được các khóa tu học như bát quan trai,
đạo tràng Pháp Hoa (tụng kinh Pháp Hoa được
nhiều phước), v.v., th́ chùa đó có đông Phật
tử, dĩ nhiên có tiền nhiều vào trong túi riêng, trong
khi giới thứ 9 Phật dạy rơ ràng: không
được cầm giữ vàng bạc; thật ra họ
có cầm giữ đâu, nhà băng giữ dùm mà! Một
tăng sĩ trẻ tuổi, rất khá Anh văn, có
thể mở lớp dạy thiền cho người
Mỹ nhưng cũng đă phải nh́n nhận rằng:
"không có Phật tử Việt nam không sống
nổi", khi được khuyên nên nhắm đến
truyền bá cho Phật tử ngọai quốc. Đó là t́nh trạng thuần thành của giới
Phật tử cư sĩ, ủng hộ tăng lữ
hết ḿnh. Nhưng c̣n chính bản thân
tăng sĩ th́ sao?
Cư sĩ Phật tử
sống trong một mâu thuẫn biện chứng kỳ lạ
đến độ kỳ diệu: nuôi dưỡng
tăng lữ, rồi lại quỳ lụy tăng lữ.
Một ông thầy nào đó, phạm giới, đáng lư
phải nên xa lánh th́ lại chỉ có rỉ tai,
sợ phạm tội, ngao ngán thở dài, rồi bỏ
đạo. Phật Pháp không sai, chỉ có những
người khoác áo tu sĩ đi sai, làm sai, nói sai. Những thành phần đó là
những con trùng sống trong ḿnh sư tử mà ăn lại thịt sư tử, cần
phải bốc ra loại bỏ. Đạo
Phật là đạo từ bi, nhẫn đến con
kiến cũng không hại, nhưng nếu muốn con
sư tử sống c̣n để rống lên tiếng
sư tử hống, th́ phải biết vạch lông t́m
bắt từng con trùng sâu trên ḿnh sư tử mà bỏ
đi. Không ai có thể hủy diệt Phật giáo
ngoài chính một số ít thành phần ung thối đó trong
tăng ni. Lẽ dĩ nhiên trong tăng
lữ vẫn c̣n rất nhiều bậc đạo cao
đức trọng, cho nên cư sĩ cần phải
dũng cảm, cần dùng trí tuệ sáng suốt vốn là
điều kiện tiên quyết trong Phật Pháp để
mà gạn lọc được viên ngọc kim
cương sắc bén giữa cát sạn bẩn nhơ.
Chiếc áo không làm nên thầy tu!
Đời nhà Thanh, vua Thuận
Trị đă làm một bài thơ trước khi rời
hoàng cung xuất gia làm tăng:
Trẩm vi
đại địa sơn hà chủ
Vi quốc vi dân sự chuyển phiền
Bách niên tam vạn lục thiên nhật
Bất cập tăng gia bán nhật nhàn.
Ngày nay, thử hỏi có mấy
ai biết hưởng thú nhàn nhạ chỉ trong nửa
ngày của cuộc đời tăng? Từ ngàn xưa,
Phật dạy: Cư sĩ có bổn phận cúng duờng
tứ sự chư tăng: thức
ăn uống, thuốc thang, chỗ ngủ nghỉ và y
phục. Không lao nhọc, mà đầy đủ như
thế rồi, nếu dành hết thời giờ
để ngồi thiền, tụng kinh, niệm Phật,
bái sám, hoặc đọc sách, dịch kinh, tư duy lời
Phật dạy, th́ biết bao là nhàn nhạ, đâu
những chỉ nửa ngày?
Y phục, tức là 3 bộ y, vừa
đủ để mặc, ngày nay tăng ni
không biết là bao nhiêu bộ, lại dùng loại hàng
lụa thiệt tốt. Chỗ ngủ
nghỉ, tức chùa chiền, tu viện, tịnh xá, có
nghĩa là Phật tử cúng dường chung
để bảo tŕ chùa làm nơi ngủ nghỉ tu hành cho
tăng ni, không phải cúng dường riêng cho một
người nào để lập chùa. Thức ăn, có
thể ăn ngày 3 buổi, không cần khất thực theo truyền thống, nhưng phải
biết tiếc từng hạt cơm, từng miếng rau
do cư sĩ dâng cúng; nhiều chùa ăn dư buổi
trưa th́ đổ vào thùng rác, buổi chiều nấu
thức khác. Thuốc thang, có nhiều bác
sĩ Phật tử trị bịnh miễn phí, những
bịnh b́nh thường mà c̣n là con người thế nào
cũng mắc phải, chứ không phải những
bịnh v́ phạm giới cấm mà phát sanh ra.
T́nh trạng chùa chiền chen chúc nhau mọc lên như
nấm tại vùng quận Cam (Orange County tại bang
California) cũng là do nơi cư sĩ đă quá đà trong
việc ủng hộ tăng ni, phần lớn là c̣n
trẻ nhiều sinh lực, có tài ăn nói không thua một
salesman, dùng những danh từ Phật học trống
rỗng thật kêu (thiền gia gọi là "bắn
bổng") để "ăn khách", không khác nào làm
diễn viên trên sân khấu cho khán giả cư sĩ khen
rộ vỗ tay.
Rồi cũng chính Cư sĩ đă thần thánh hóa tăng
lữ. Phật tử thường hay than phiền
vị thầy này, cô ni kia, nhưng
lại nơm nớp lo sợ là nói động đến
họ th́ mang tội. Đọc lại các kinh
điển do chính Phật dạy, có kinh nào Phật bảo
phải tôn sùng tăng lữ như vậy hay không? Tất
cả, từ kinh Pháp Hoa, Kim Cang cho đến Viên Giác, Hoa
Nghiêm, v.v., đều là chỉ bày chân lư và tự thân
thực chứng (ông tu ông đắc, bà tu bà đắc);
ngay chính Đức Phật cũng không chịu cho ai sùng bái
Ngài, "các ngươi hăy tự ḿnh thắp đuốc
lên mà đi, ta chỉ là Người chỉ
đường." Th́ sao lại phải
sợ mang tội?
Một ông thầy
tu, ngoài cái đầu không tóc và bộ áo tràng ra vẻ
đường đường tăng tướng,
thật tế cũng chỉ là một người b́nh
thường, cũng có lục dục thất t́nh như
mọi người. Ngoài số lớn tŕ giữ giới luật
nghiêm mật – thành phần này không có xe hơi, không có cell
phone, có nhiều những băng giảng pháp chân chính hay các
bộ kinh điển dịch thuật đúng nghĩa – ,
số c̣n lại th́ cũng chỉ là những người
tập tễnh trên đường tu đạo mà thôi.
Chữ tu có nghĩa là sửa đổi (tu chỉnh),
một người sinh ra bản tính có thể là hay sân
giận, nói nôm na là tính nóng, hay nổi nóng, sau quá tŕnh tu
tập hoặc thiền định hoặc niệm
Phật vài ba mươi năm, đến cuối
đời mà vẫn không bớt tính nóng đó đi
được một phần nào, th́ công phu tu tập
ở đâu? Làm thiền sư dạy trăm ngàn
người ngọai quốc thực hành an lạc, thư
giăn, hít thở cho tĩnh lặng, mà video nhiều chỗ
chiếu lên gros plan, gương mặt nhăn nhó nhiều
phiền năo, không phải ưu sầu cho thế sự, mà
là một bầu tâm sự sôi sục trong ḷng, th́ định
nghĩa thiền sư phải như thế nào?
* **
Nêu lên những tiêu hoại
như trên, không phải là để đả kích, mà là
để kêu gọi một hưởng ứng như là ôm
mộng đội đá vá trời, kêu gọi hàng ngũ
Cư sĩ xin hăy khoan vội đổ lỗi
cho hàng tăng lữ, mà cần thấu hiểu và áp
dụng giới luật do chính Phật dạy để
hộ tŕ và thực thi chính pháp. Con đường
trước mặt là Cư sĩ
cần phải làm môt cuộc cách mạng để:
1. Đả phá tôn sùng thần
tượng nơi người tăng sĩ. Bởi v́ tăng sĩ cũng vẫn c̣n là con
người, c̣n đủ thất t́nh lục duc; chỉ có
mảnh áo tràng và giới luật là bảo vệ cho họ
c̣n là một người cao quư hơn cư sĩ một
nấc, chỉ một nấc thôi. Họ không
phải là thần thánh, cũng không đại
diện cho thần thánh để giải trừ tai ương khổ nạn cho chúng sinh.
Tăng sĩ, nhất là từ một vài đạo tràng uy
tín ngoài Huế, thường có thái độ như ta đây
là "thiên nhơn chi đạo sư".
Chỉ có Đức Phật mới là bậc "thiên
nhơn chi đạo sư"; tăng lữ, dầu là
những bậc đạo rất cao, đức rất
trọng, đă đạt được vài quả vị
trên đường giải thoát rồi, cũng vẫn c̣n
là con người b́nh thường, hà huống những
hạng bê bối, phạm đủ thứ giới ba la
di! Những bậc đáng tôn kính là những long
tượng theo đúng nghĩa
"thượng hoằng Phật đạo, hạ hóa
chúng sinh", thế nhưng c̣n hạng kia, trước
đă không theo đúng đường Phật dạy
rồi th́ sau lấy cái ǵ để dạy dỗ chúng sinh?
Chỉ cái đầu tṛn cái áo vuông và một
giọng tụng kinh hay, chưa đủ.
Đừng quên câu "nhược dĩ sắc kiến
ngă..."
2. Kiểm thúc việc cúng
dường. Những ǵ tăng sĩ do cảm t́nh cá
nhân yêu cầu mà không cần thiết cho sự phát triển
tâm linh của họ, cần phải từ chối. Thí dụ, một vị tăng trẻ, cần
một cái cell phone để làm ǵ? Để
liên lạc với Phật tử? Chỉ
trong hai giờ đồng hồ, một vị tăng nói
chuyện trên cell phone 3 lần, đều là với nữ
cư sĩ, với một người trên nửa giờ.
Nói chuyện ǵ? Chắc chắn không
phải là thuyết pháp! Trong hai giờ đó, nếu
biết giữ giới tu thiền niệm Phật, công
đức biết bao! Ngày nay, chính v́ những dư dă
đó đă khiến tăng sĩ sa
đọa, cho nên, chính cư sĩ làm hư thầy!
3. Sáng suốt trong khi phát tâm
cúng dường: Một vị tăng sang Nhật
bản học vào đầu thập niên 70, không học hành
nên ǵ, qua thăm Mỹ lần đầu giữa những
năm 80, "tôi lên máy bay rồi mới cạo đầu
lại", đó chính là lời ông tâm
sự với một vị thầy khác. Đầu
năm 2006 trở lại, đă thành Ḥa thượng, kêu
gọi để xây chùa tại Nhật, quyên
được hai ba trăm ngàn đô. Đất
Mỹ quả thật ph́ nhiêu, ḷng người Phật
tử rất thuần thành rộng răi. Có
biết nơi xứ Nhật, một tăng sinh ngọai
quốc giới hạnh đầy đủ c̣n chưa có
thể được tạm trú trong một ngôi chùa
Nhật để tu học, làm ǵ có chuyện cho phép
thầy tăng ngọai quốc cất chùa ở đó?
Nhật không phải là một khu quận
4. Tích cực tham gia các công tác
thuộc xă hội, y tế, giáo dục, văn hóa, ngay
cả chính trị... Điển h́nh về những công
việc cứu tế từ thiện, phải do cư
sĩ đảm đương, vị Thầy chỉ
đứng tên kêu gọi v́ có uy tín, nhưng
vị thầy đó không được
đụng tới những đồng tiền đó
(giới thứ 9). Ai là người đă
mượn danh nghĩa cứu trợ nạn lụt vùng
đồng bằng Cửu Long để bỏ vào túi riêng
một ít tiền đó? Hăy noi gương của Ni
sư Chứng Nghiêm bên Đài loan, hội Từ Tế
của bà đă có mặt khắp nơi trên thế
giới; những kiện hàng cứu tế ăm ắp
trong kho chờ khi nơi nào có thiên tai nhân họa là sẵn
sàng chất lên máy bay ngay. Ni sư chỉ ra đứng làm
lễ chứng minh rồi nhường lại cho cư
sĩ đảm trách phần thể hiện ḷng từ bi
chân thật của đạo Phật. Cư sĩ bảo
trợ là những đại thương gia tài sản
kết sù; họ cần một bậc chân tu chứng minh
cho công tác từ thiện của họ; đây là không
kể Ni sư cũng là chứng minh đạo sư cho
một trường đại học y khoa (bà không có
cấp bằng bác sĩ), đào tạo những tăng ni
bác sĩ y tá với mục đich thực hịện
những giáo lư từ bi thiện nguyện của Phật.
Phật tử Việt nam ngày nay không thiếu những
cư sĩ có nhiều phương tiện vật
chất, có đầy đủ đạo tâm, có dư
thừa t́nh thương như thế, sao không thể làm
được một hội từ tế cho Việt nam,
sao không có được một ni sư Chứng Nghiêm cho
Việt nam? Nói về tham gia chính trị, th́ cư
sĩ mới phải làm chính trị, để bảo
vệ Phật Pháp. Cá nhân tăng lữ không
được v́ một cái ngă, đáng lư là mục tiêu
cần tiêu diệt trên đường tu đạo, mà
dẫn dắt cư sĩ vào đường chính trị
rồi cứ hô hào là không làm chính trị. Phạm
giới thứ tư! Tăng lữ cũng không
được y áo chỉnh tề ś sụp lễ lạy
hôn nhẫn linh mục Công giáo La mă để cầu
viện đồng minh chính tṛ, liên tôn liên tiếc. Gương Gia Long cơng rắng cắn gà nhà c̣n
sờ sờ đó. Tăng lữ cũng không
để cư sĩ xỏ mũi để xum xê làm
những con múa rối cho một tập đoàn cư sĩ
"Made in Paris, funded by CIA" giật dây; đă
"nội bất xuất, ngọai bất nhập,
bị ḱm kẹp?" th́ làm sao có những văn thư
viện trưởng này tăng thống nọ rập
rềnh trên những phương tiện truyền thông
ngoại quốc và cám ơn đầy đủ tên
tuổi những cơ quan toàn cầu (global), những nhân
vật chính trị nổi tiếng thế giới?
5. Giữ thái độ b́nh
nhiên và bao dung trước những vị tu xuất:
Nhờ đủ nhân duyên mà một người c̣n là
tăng sĩ (chân chính); nếu nghiệp quả lôi kéo
nửa đường phải xin giải y một cách
đàng hoàng, cư sĩ cần phải hoan nghênh họ
trở về với cư sĩ đoàn, tham gia những
công tác đóng góp trong vai tṛ của cư sĩ cho Phật Pháp. Đă có nhiều thái
độ trái nghịch, của một số cư sĩ
mù quáng, khi một thầy tu giải giới th́ bè diểu,
phỉ nhổ khiến v́ mặc cảm vị đó
bỏ chùa bỏ đạo. Phật Pháp mất đi
một cư sĩ có khả năng! Ngược lại,
một vài thầy, danh tiếng vang dậy, che đậy
giới phạm thứ ba (tăng tàn), sanh con đẻ cái,
mà vẫn chễm chệ leo lên ngồi
ghế cao để nhận x́ sụp bái lạy của
một số cư sĩ thuần tín. Có bao nhiêu con hoang –
thật ra không hoang, v́ chúng biết có mẹ có cha, mà không thể
gọi một tiếng cha, c̣n đau khổ nào bằng –
nếu ông thầy kia biết tàm quư, danh lợi trong
cổng chùa cũng không cao cả linh thiêng bằng t́nh cha
con máu thịt, để được tự nhiên
vuốt tóc gọi một tiếng con (đau khổ nào
hơn), th́ thanh tịnh biết mấy cho hàng tăng
lữ!
Cá phải sống
nhờ trong nước, nhưng mà nước đục
th́ cá có thể chết. Nếu cư sĩ là nước,
th́ phải là những thứ nước trong sạch,
để trưởng dưỡng cá tăng, bằng
không, cá chết rồi mà nước tuy vẩn đục
nhưng vẫn c̣n có thể là nước. Đây không phải là một cuộc cách mạng
bạo lực, mà cư sĩ phải ư thức vai tṛ
hộ pháp của ḿnh, hộ tŕ chính pháp chứ không
phải hộ tăng (nhất là những vị tăng
tàn), mặc dầu tăng là những vị truyền bá
chính pháp.
Cuộc chấn hưng
đầu thập niên thế kỷ 20 do Thái Hư
đại sư lănh đạo cũng do v́ t́nh huống
tăng lữ quá hủ bại. Nay nếu trong giáo đoàn
tăng lữ không ai dám, hay không có thể -- v́ không có giáo
quyền – để tiếp tục công cuộc chấn
hưng Phật giáo, th́ cư sĩ phải là đ̣an
thể có trách nhiệm và có bổn phận chấn
chỉnh tăng già. Bởi v́ cư sĩ là những vị
hộ tŕ Tăng lữ để nối truyền mạng
mạch của Phật Pháp, cư sĩ có quyền (có
tiền là có quyền) và có khả năng (tất cả
phương tiện không nằm trong 5 giới cư sĩ)
để thực thi sứ mạng đó. Mong thay!
(Bài viết Hội thảo
Phật giáo trong thời đại mới: Cơ hội và
Thách thức" do Viện Nghiên cứu Phật học
Việt
Thích Quán Thông