Kính chào quý vị,  

Cám ơn anh Khôi giới thiệu bài của anh Minh Tích, tôi đã tìm đọc và rất cảm động vì có người vẫn tâm huyết dẫn giải giáo lý Phật giáo một cách căn bản dễ hiểu cho những ai muốn tìm hiểu đạo Phật. Nhất là với giới trẻ VN từ 40 tuổi trở lại, họ ra đời vào lúc xã hội nhiễu nhương, trong lúc khoa học kỹ thuật phương Tây phát triển nh vũ bão, cuốn hút mọi thành phần chen nhau đi đến chỗ VONG THÂN.  Dù chủ quan, tôi vẫn cho rằng đạo Phật là tôn giáo duy nhất có khả năng kéo con người tạm thời dừng lại chốc lát để nhận diện MÌNH LÀ AI ? ĐI ĐÂU ĐÂY ?   

Tôi còn tâm đắc một số bài viết của những nhà khoa học, những bài viết khá nặng ký đánh vào những đầu óc thực dụng của giới trẻ, vì thành phần nầy luôn có khuynh hướng thực nghiệm, đòi chuyện gì cũng phải được chứng minh có lô-gíc, không mời gọi khơi khơi được. Tuy nhiên tôi không tán thành phê phán gay gắt bất kỳ một tôn giáo nào. Đạp đổ người khác để mình đứng lên không phải là bản hoài của chư Phật, không phải là chủ trương của giáo lý Phật.

Như tôi đã nói, Phật vốn tuyên thuyết VÔ LƯỢNG PHÁP MÔN TU, nếu duyên nghiệp của mình có được sự quán chiếu thông tuệ hơn người đôi chút, thì cũng chỉ âm thầm thương cảm những kẻ "giới cấm thủ" - thế cũng đã là chủ quan rồi - huống hồ phỉ báng những người không giống mình.   Tôi lấy ví dụ bản thân tôi, mỗi lần giỗ kỵ mẹ tôi, tôi bảo vợ tôi chỉ mua hoa quả trầm trà thôi, không mua gì khác. Nhưng đến lượt kỵ giỗ mẹ vợ tôi, tôi nhắc bả đừng đốt vàng mã, không có kinh sách nào biểu như vậy cả. Nhưng bà buồn ra mặt, có lẽ trong ý nghĩ bả chắc mẹ rách rưới khổ sở, một năm mới sắm cho mẹ một lần mà sao tôi ngăn cản! Bả vẫn lặng lẽ  mua về và thế là tôi cũng rất vui vẻ  đốt mà không nói thêm lời gì cả. Sao ? Quý vị nghĩ là tôi vin vào chánh pháp, chánh kiến, hơn nữa lấy cái quyền làm cha làm chồng trong gia đình để dứt khoát bác bỏ là chính đáng ư ? Làm cho người khác phải đau khổ chỉ vì họ biểu hiện lòng hiếu thảo thương yêu cha mẹ mà trong thâm tâm không cho đó là sai trái cũng chẳng tác hại gì đến ai. Đến năm bảy năm sau kể từ ngày mẹ mất, bà thấy đốt vàng mã cho mẹ của bả, còn tôi không đốt cho mẹ tôi thì cũng vậy, nên dần dần bả cũng theo tôi không đốt luôn. Đây chẳng qua tâm lý thương yêu quyến luyến buổi đầu, qua thời gian nhẹ bớt nên có thể chuyển đổi.  

Tôi lấy ví dụ bản thân để muốn nói rằng bôi bác pháp môn của người khác thật không phải là chánh đạo, thiếu tâm từ. Huống hồ tôi thấy có vị chỉ trích Đại thừa, chỉ trích Tiểu thừa, phê phán miệt thị các tôn giáo khác quả là điều không nên vậy. Có điều thấy cái ác, thấy kẻ nhân danh tôn giáo mình để sát nhân hại vật mà im lặng coi như đồng lõa với tội ác nên mới phê phán với mục đích khuyền thiện.

Tôi nhớ có người hỏi ngài Long Thọ:

- Tiều thừa là gì ?  

Ngài trả lời : - Tiểu thừa là Đại thừa.

Người ấy lại hỏi : - Vậy Đại thừa là gì ?

- Đại thừa là Tiểu Thừa.

Không phải ngài trả lời cù nhầy đâu, mà quả thật hai mặt của một đồng xu mà. Không có mặt trước sao có mặt sau được !   Mỗi chúng ta có một nhân duyên khác nhau, hầu như không ai giống ai. Tôi học Phật không biết tự bao giờ nhưng tôi nhớ khởi đầu của tôi hơi ngược đời. Lẽ ra phải tham khảo hệ Tiểu Thừa trước rồi mới qua hệ Đại thừa, vì có thể nói hệ Tiểu thừa gần như thiên về sự tướng cụ thể, còn Đại thừa gần như thiên về lý tánh trừu tượng. Nhưng do một nhân duyên, có một vị đạo hữu phát nguyện thuật lại toàn bộ hệ Nikaya bằng cách viết tay, vị nầy đưa qua tôi vừa đánh vi tính, vừa hiệu đính và in ấn, nên dù muốn dù không tôi cũng phải cẩn thận từng chữ, từng dấu chấm. Công việc hoàn tất khoảng hơn 4 năm. 

Điều tôi muốn nói đây là trong thời A Hàm, có những vị Tỳ Kheo vào bạch Phật xin  một đề tài thiền quán để tu tập. Phật quán biết căn cơ của từng người nên Phật cho mỗi người một đề tài không nhất thiết giống nhau, miễn sao phù hợp căn tánh từng người để đạt kết quả nhanh nhất, không cứ là phải Tứ Niệm Xứ (Thân, Thọ, Tâm, Pháp)  mới là nhanh nhất hay tốt nhất. Thế mà tôi thấy anh Trần Thọ cứ đưa Tứ Niệm Xứ lên hàng đầu và hỏi các đạo hữu có ai quán Tứ Niệm Xứ chưa, coi như đây là pháp môn số 1, thiết nghĩ có chủ quan lắm không ? Giá như căn cơ vị nào đó phù hợp với phép quán khác và đã đắc thiền chứng nhưng không nói ra thì sao ? Thường thì  không ai nói ra dù đắc sơ, nhị, tam Tứ thiền cho đến Diệt Thọ Tưởng Định cũng không ai biết. Chỉ có Phật tuyên bố giới thiệu cho đại chúng biết về người đó để khuyến khích mà thôi. Nếu mình tự bình chọn pháp môn Tứ Niệm Xứ là trên hêt thì vô tình ngã mạn  muốn giỏi hơn cả Phật. Xin anh Thọ hoan hỷ cho ý kiến để cùng học hỏi.  

Sau cùng, thưa anh Khôi, khi nào anh đưa lên mạng bài mới xin anh thông báo để anh em tìm đọc. Còn trong trao đổi Email giữa nhóm chúng ta, cũng nên đưa ra những vấn đề cụ thể coi như một vấn nạn tìm cách giải quyết để mọi người động não có lẽ hấp dẫn sôi động hơn, thay vì thụ động dễ đi đến nhàm chán và tê liệt. Hoặc kể lại câu chuyện cụ thể đời mình có chỗ tương ứng với Phật pháp. v.v. Tất cả những việc ấy mục đích  soi lại chính mình, ghi lại dấu ấn trong đời để được TIN SÂU Phật pháp hơn.

Kỳ tới tôi sẽ kể về một chuỗi nhân duyên kỳ lạ trong đời tôi hầu quý vị  

Thân ái.  

Nguyên Trường. Ngày 7 tháng 11 năm 2006

 

Ngày 8 tháng 11, 2006

Câu hỏi của đạo hữu Thọ:   Tôi xin có câu hỏi các kinh sách nhiều vô kể trên thế giới sao ḿnh biết ai đă giác ngộ để mà đọc kinh sách của vị này. Nhất là vị này lại chẳng khẳng định là ḿnh giac ngộ hay không giac ngộ nữa .??? Tiêu chuẩn anh chọn kinh sách như thế nào??? Có cách nào khác hơn là chữa bệnh mà không cần biết nguyên nhân của  bệnh??? Tôi rất sợ phải đọc những cuốn sách này lắm. Thọ  

Bài trả lời của đạo hữu Nguyên Trường:  

Anh Thọ thân mến.  

Tôi xin phép được trả lời anh theo thứ lớp, tất nhiên với vốn liếng có giới hạn trong khả năng tiếp thu học hỏi  của tôi :  

1/- Không phải bất cứ vị nào chứng đắc cũng viết ra kinh sách, nếu anh đã có khuynh hướng thiện cảm với Tiểu thừa hay Nguyên thủy, điều đó đồi với tôi rất trân trọng, rất trân quý, nếu ai chỉ trích chê bai thì xin cho tôi được cùng với anh gánh vác để bảo vệ niềm tin Phật pháp. Điều tôi muốn nói ở đây là trong thời Phật còn tại thế, có rất nhiều, nhiều lắm, các đệ tử của Phật đắc A La Hán, trong đó mười đại đệ tử của Phật như các ngài Đại Ca Diếp, Xá Lợi Phất, Mục Kiền Kiên, Phú Lâu Na, Tu Bồ Đề v.v. đều là những vị Đại A La Hán nổi danh, mỗi người một sở trường riêng gọi là Đệ Nhất, ví dụ đệ nhất thần thông Mục Kiền Kiên, đệ nhất giải Không Tu Bồ Đề, đệ nhất trí tuệ Xá Lợi Phất, đệ nhất đầu đà Đại Ca Diếp v.v. . thế nhưng tuyệt nhiên không một vị nào có viết kinh sách để lại. Điều nầy cũng dễ hiểu thôi, bởi vì tất cả những gì họ chứng nghiệm được, họ trải nghiệm được  thì đã được Phật nói ra cả rồi, chẳng lẽ họ khám phá ra cái mà Phật chưa biết ? thế thì phải đánh giá trí tuệ Phật như thế nào ? Do đó mà các vị Thanh Văn từ sơ quả cho đến tứ quả tức các vị đã chứng Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm và A La Hán đều không ai viết kinh sách gì do họ sáng tác mà chỉ là lặp lại lời Phật dạy.   Một thời gian lâu sau khi Phật nhập diệt, tăng đoàn mới hội họp cùng nhau ghi chép lại những lời Phật đã thuyết giảng gọi là Kết Tập Kinh Tạng. Bởi vì trong lúc Phật còn tại thế đều không có ghi chép gì cả.. Tăng đoàn không ở một nơi nào cố định lâu, cũng không có ban biên tập hay tu thư như ta bây giờ. Trong tăng đoàn có ngài A-Nan  được mệnh danh là Đệ Nhất Đa Văn, ngài đắc một dạng Tam Muội đặc biệt,  hễ nghe qua là nhớ mãi không sai sót, mà ngài là thị giả luôn luôn sát cánh bên Phật. Nên trong lúc kết tập, tăng đoàn đề cử ông thuật lại lời phật dạy.Vì vậy ta không lấy làm lạ khi mở đầu mỗi kinh bao giờ cũng có câu TA NGHE NHƯ VẦY (Như thị ngã văn). Câu mở đầu nầy gọi là CHỨNG TÍN TỰ, tức là chữ để làm tin. Thực ra mở đầu kinh thường có sáu cụm từ gọi là LỤC THÀNH TỰU (chuyện nầy dẫn giải dài dòng lắm). Về sau nầy các vị Tổ, các vị Đại sư có trước tác thì đều gọi là LUẬN tức là những tác phẩm diễn giải rõ thêm về Kinh Phật. Đặc biệt về sau nầy bên Đại Thừa tôi thấy có một vài kinh như Kinh Thủy Sám do ngài Ngộ Đạt Quốc sư sáng tác, Kinh Pháp Bảo Đàn do Lục Tổ Huệ Năng nói. (chữ Kinh trong đây có nghĩa là Xâu Xỏ lại - những cái gì rời rạc)   Theo câu hỏi của anh Thọ tôi lấy làm lạ không biết anh thấy kinh sách của ai đâu mà nhiều thế. Lẽ ra kinh Phật thì chỉ có Phật nói là đủ hết mọi chuyện Đại thừa Tiểu thừa trong đó rồi, ai muốn giảng giải thêm cho rõ ràng phù hợp với ngôn ngữ và kiến thức thời đại thì gọi là Luận thôi.  Cho nên gia tài Phật Pháp chỉ có 3 tạng gọi là KINH TẠNG, LUẬN TẠNG và LUẬT TẠNG.  

2/- Anh hỏi tiêu chuẩn tôi chọn kinh sách như thế nào. Thì tôi cũng chỉ đọc và học kinh Phật trong 3 tạng đó thôi, nhưng rất tiếc là giá như tuổi thọ của tôi khoảng 300 tuổi thì tôi sẽ đọc hết cả 3 tạng ấy, thưa anh.Tuy đọc kinh luận của Phật giáo như vậy nhưng tôi vẫn thấy chưa thỏa mãn, có thể giáo lý của các tôn giáo khác hợp lý hơn , hay hơn thì sao, nên tôi không quản mệt mỏi tìm đọc cho được cả giáo lý của Cao Đài Giáo, Hòa Hảo, Bahai, Thiên Chúa Giáo, Hồi Giáo, Ấn Giáo, . v.v. để tìm ra chỗ phải trái và đặc tính của mỗi tôn giáo xem họ lý luận ra sao. Cũng xin tâm sự với anh, ngần ấy tài liệu kinh sách của các tôn giáo cộng lại cũng không đồ sộ, ngõ ngách, chằng chịt, đa dạng bằng tài liệu một Phật giáo. Đây quả là điều thật bất hạnh, chuyện nội bộ trong nhà mình, ruột gan mình mà mình không biết cho rốt ráo bằng chuyện ngoài đường, chuyện của thiên hạ !!!  

3/- Việc tôi nói anh đề cao Tứ Niệm Xứ quá anh đừng hiểu lầm Tứ niệm xứ là không tốt đâu, mà tôi có ý nói rằng Tứ Niệm Xứ  là 4 phép quán, nó nằm trong 37 phẩm trợ đạo, nếu không thực hành cùng lúc với các pháp trợ đạo khác thì Tứ niệm Xứ chẳng có tác dụng thành quả gì. 37 phẩm trợ đạo gồm : Tứ Niệm Xứ (4), Tứ Chánh Cần (4), Tứ Như Ý Túc (4), Ngũ Căn (5), Ngũ Lực (5), Thất Bồ Đề Phần (7) và Bát Chánh Đạo (8). Tất cả 37 phẩm, phẩm nào cũng quan trọng hết, nó yểm trợ bổ túc cho nhau chứ tại sao chỉ có Tứ Niệm Xứ ?  Như vậy trong 4 Đế thì Đạo Đế là  thực hành cả 37 phẩm trợ đạo nầy vậy  

4/- Anh nói anh sợ đọc những cuốn sách nào đó là phải, trong đó có nhiều lý do. Lý do thứ nhất là anh không hệ thống hóa sự đọc của anh cho có thứ lớp. Có khi nào anh đi đến một chỗ lạ, bất chợt trong hẻm anh chun ra đường lộ lớn tấp nập xe cộ, anh sẽ bối rối không biết bên nào là cuối đường bên nào đầu đường và anh sẽ sợ đi hố cái hướng mình muốn tới. Nếu anh biết rõ con đường nầy chắc chắn anh không sợ. Lý do thứ hai như một vị Tổ có nói : "Không phải chùa nào cũng có Phật, không phải pháp nào cũng do Phật nói ra, không phải tăng nào cũng kế thừa Phật pháp". Vậy thì chỉ còn nương nhờ vào trí tuệ phán đoán của mình thôi, suy nghĩ, so sánh, đối chiếu, tự mình thầm lặng lý giải để quyết định. Chứ không thể nghe danh một cao tăng đắc đạo mà mình vội phó thác toàn bộ tri, hành theo ông ấy. Cho dẫu ông ấy đắc đạo thật và mình quỳ mọp dưới chân ông ta thì sau trước mình cũng chỉ là cái bóng của ông ta. Không biết anh đã đọc "Câu chuyện dòng sông" của Hertman Herzt chưa nhĩ ? (ông nầy người Đức, không biết tôi có viết sai chính tả tên ông ta hay không), tôi nghĩ là rất có ích.  

Vài dòng tâm sự, mong anh vui vẻ nhé  

Nguyên Trường. 8 tháng 11, 2006.