cảm
nghĩ về đạo Phật
phạm văn bân
Trái với các tôn giáo khác, đạo
Phật không tôn thờ một đấng sáng tạo
(Creator God) nào cả. Tại
các chùa, đền thờ, người ta thờ Phật có
lẽ là do ḷng ngưỡng mộ mà ra bởi v́
Đức Phật Thích Ca không chủ trương việc
này.
Tu và hành đạo Phật cần chú
trọng đến hai chữ: vô minh (ignorance) và giác ngộ
(fully enlightened, to wake up).
Thức dậy và thoát ra cái bể tối tăm
đang sống để thấy sự thật của
vạn vật cùng những vấn nạn của chính cá
nhân ḿnh. Đức Phật
chỉ cho con đường giải thoát, cứ theo đó
mà tu tập, không có ǵ huyền bí và phức tạp
cả. Cái ǵ không giải thích
được hoặc rắc rối quá sức hiểu
biết của một người b́nh thường th́ cái
đó hầu chắc không phải của Đức
Phật Thích Ca. Chủ
trương của Đức Phật Thích Ca là cứu
tất cả mọi người ra khỏi cái bể
khổ, các điều giảng dạy đi thẳng vào
đời sống thực tế của con người và
áp dụng được cho tất cả mọi
người chứ không dành riêng cho ông Albert Einstein hoặc
một nhóm thiền sư "siêu việt" hoặc
một duyên kỳ ngộ nào cả. Ai cũng có thể tu và
đạt đạo. Trong cái
rừng kinh sách do suy diễn có khi làm sáng tỏ triết lư
nhưng cũng có khi “lung tung”; v́ vậy, cách đúng
đắn nhất là nên đi về cái gốc và hệ
thống hóa các điều giảng dạy chân chính của
Đức Phật Thích Ca.
Tinh túy của đạo Phật, trên quan
điểm lư thuyết cũng như thực hành, đă
được tóm gọn trong bài giảng thứ nhất
của Đức Phật Thích Ca ngay sau khi Ngài giác
ngộ. Tinh túy đó là bốn
sự thật (the four noble truths, tứ diệu đế
(1), gồm có:
Ø sự
thật về sự đau khổ (the truth of suffering,
khổ đế
(2)
Ø sự
thật về nguyên nhân của đau khổ (the truth of the
cause of suffering, tập đế
)
Ø sự
thật về việc chấm dứt đau khổ (the
truth of the end of suffering, diệt đế
)
Ø sự
thật về con đường dẫn đến
việc chấm dứt đau khổ (the truth of the path that
leads to the end of suffering, đạo đế
).
Tôi tin rằng tất cả chúng ta , nếu
thật sự luơng thiện với chính ḿnh, đều
sẽ phải công nhận là đời sống có một
vấn nạn gốc rễ của nó. Vấn nạn đó là mọi
việc không xảy ra như đáng lẽ phải xảy
ra. Một cái ǵ đó ở
nơi nào đó không được đúng lắm. Và không cần biết chúng ta
đă cố gắng "chạy trốn" nó khổ
sở như thế nào, sự kiện là chúng ta sẽ
phải đối diện với cái vấn nạn này:
mọi việc không phải lúc nào cũng xảy ra như
đáng lẽ phải xảy ra, một cái ǵ đó đă
sai ở một chỗ nào đó.
"Sai", "trục trặc" nên chúng ta
khổ hay nói cách khác, mọi người, mọi việc
không được như cái ư muốn chủ quan của
chúng ta. Đa số mọi
người sẽ đi t́m giải pháp cho vấn nạn
này, nhưng cũng có một số có thái độ bỏ
mặc, giống như con đà điểu vùi đầu
xuống cát để ngỡ rằng đă tránh né
được vấn nạn.
Sự
thật thứ nhất: bản chất của cuộc
đời là khổ.
Đạo Phật nh́n nhận có tám thứ
khổ ở đời:
Ø Khổ
do sanh: nguời sanh và kẻ bị sanh đều
đau khổ. Người
mẹ phải chịu biết bao là đau khổ kể
từ ngày mang thai cho đến lúc sanh con. Người con cũng đau
khổ không kém: chín tháng mười ngày bị giam hăm trong
bụng mẹ. Sanh ra rồi
th́ phải đối diện với không biết bao nhiêu
là nỗi khổ: vật chất (bệnh tật, cơm
áo, nhà cửa, xe cộ) và tinh thần (danh tiếng, t́nh yêu
"lỡ chuyến đ̣, tàn phai, ngang trái", gia đ́nh,
lục dục thất t́nh, v.v.)
Nhưng trên hết là ḷng tham không bao giờ thỏa
măn được (insatiable), và đây mới là cội
rễ của mọi chuyện trên đời.
Ø Khổ
v́ già: càng lớn tuổi, sức khỏe càng suy
giảm, trí tuệ càng lẩm cẩm.
Ø Khổ
v́ bệnh: con người phải chống
chọi với bệnh tật từ lúc mới sinh cho
đến lúc chết. Ai
cũng biết bệnh th́ tất nhiên là khổ lắm.
Ø Khổ
v́ chết: khi chết, đa số mọi
người sẽ khổ cả về thể xác lẫn
tinh thần.
Ø Khổ
v́ thất vọng (cầu bất đắc khổ):
đau khổ, buồn rầu v́ không đạt
được điều mong muốn. Thí dụ: mong có tiền bạc,
công danh, t́nh yêu nhưng không đạt được.
Ø Khổ
v́ thương nhau nhưng bị chia ĺa (ái biệt ly
khổ): vợ chồng, cha mẹ và con, anh
chị em, bạn bè, v.v. thương yêu nhau mà nay phải
chia ĺa th́ sinh ra khổ. Có hai
loại chia ĺa: c̣n sống nhưng không được
ở chung với nhau (sanh ly) và xa cách v́ chết (tử biệt).
Ø Khổ
v́ oán ghét nhau mà cứ phải gặp nhau (oán tắng
hội khổ): người ta hay nói: "Thấy
mặt kẻ thù như kim đâm vào mắt; ở chung
với người nghịch như nếm mật, nằm
gai". Thí dụ: vợ
chồng "cơm không lành, canh không ngọt" mà phải
chịu đựng sống chung với nhau th́ khổ
lắm.
Ø Khổ
v́ mang thân người (ngũ ấm xí thạnh khổ): con
người bị năm tổng hợp (the five aggregates)
khỏa lấp, xung đột, chi phối làm họ
rất khó trở về với chân tính. Đây là học thuyết rất
quan trọng của đạo Phật về cái tôi (the
self), gồm có:
a)tổng hợp thể chất (the aggregate
of matter or form): tai nghe âm thanh, mắt nh́n sự vật,
mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, da sờ mó,
đụng chạm với sự vật; tất cả
năm giác quan này tạo ra một h́nh dạng vật
chất nào đó.
b)tổng hợp cảm giác (the aggregate of
feeling or sensation): h́nh dạng vật chất nào đó
khiến cho con người phản ứng lại bằng
ba loại cảm giác: khổ, vui, hoặc không khổ, không
vui.
c)tổng hợp suy tưởng (the aggregate
of impulse or perception): căn cứ vào các cảm giác về
các h́nh ảnh, âm thanh hoặc những ǵ có thể h́nh dung
được từ năm giác quan mà con người
bị kích thích, từ đó phát sinh nhận thức
để nhận diện vạ sắp loại các cảm
giác đó. Nhận thức này
hăy c̣n ở mức thô sơ và bất chợt (impulse).
d)tổng hợp quan điểm (the aggregate
of concept): việc nhận diện và sắp loại cảm
giác thô thiển ban đầu tạo điều kiện
phát sinh nhận định.
e)tổng hợp ư thức (the aggregate of
consciousness): từ bốn diễn tŕnh tuần tự
biến đổi như trên, ư thức thành h́nh và biến
đổi không ngừng; điều khiển và chi phối
hành động của con người.
Phân tích về năm tổng hợp
nhằm mục đích mang lại sự khôn ngoan để
diệt cái tôi đáng ghét
của con người. Sự
khôn ngoan đó là hiểu được luật vô
thường (impermanence) của vạn vật: tất
cả đều phải bị hủy hoại, không có cái
ǵ tồn tại măi măi. Có
mấy ai khi đang sung sướng, khỏe mạnh, nhà
cao cửa rộng, vợ đẹp con ngoan mà dám nghĩ
rằng ngày mai, một cái bướu trong một bộ
phận nào đó bộc ra và sẽ chết trong tháng
tới ? Có ai dám nghĩ
rằng sức khỏe, danh vọng, tiền bạc
đang có trong tay chỉ là tṛ vui trong tích tắc? Có ai dám nghĩ rằng vợ,
chồng, con cái chỉ là tạm bợ ? Thực ra, mọi người lên
sân khấu cuộc đời để đóng một vai
kịch nào đó trong một thời gian nào đó, sau đó
phải xuống sân khấu.
Việc tụ hợp thành vợ chồng, con cái,
bạn bè, v.v. được đạo Phật gọi là
cái duyên. Hợp rồi tan. Xin lưu ư tuy rằng bản
chất của các duyên là vô thường trong một khoảnh
khắc nào đó, nhưng cho dù ngắn đến đâu
đi nữa, con người vẫn phải tích cực
sống cho đúng vai tṛ của họ trong khoảnh
khắc đó để trả cái nghiệp của
kiếp trước (nghiệp nghĩa là hành động,
dịch từ chữ karma=action).
Hành động kiếp trước tạo ra cái quả
(effect) kiếp này và hành động kiếp này
tạo ra cái nhân (cause) cho kiếp sau. Sống đúng để rút
ngắn cái ṿng nhân quả không ngừng. Sống không đúng th́ luân hồi
măi cho đến khi nào đúng th́ thôi. Nhận thức như vậy, con
người sẽ đối diện với mọi
sự rắc rối ở đời một cách b́nh
thản, không sợ gặp tai họa, diệt tánh tham nên
thoát được khổ, cũng như bản thân
sẽ giảm bớt tội lỗi mà từ đó, có
được một đời sống yên b́nh trong
nội tâm. Không có ǵ phải
quá sức vui mừng hoặc đau khổ khi sanh, già,
bệnh và chết bởi v́ dù muốn, dù không, không ai tránh
được định luật này. Cái ǵ tới, sẽ tới.
Cuộc đời là bể khổ. Vậy th́ tại sao khổ ?
Sự
thật thứ hai: nguyên nhân của đau khổ.
Đau khổ là do mười nguyên nhân sau
đây:
v Tánh
tham (tham): ḷng tham không đáy trong mọi lănh
vực: vật chất và tinh thần, rồi từ đó
dẫn đến nhiều nỗi khổ khác. Thí dụ: tham muốn có cái xe
đẹp nên dè sẻn để có tiền muạ Có được xe mới th́
lại lo giữ ǵn, rủi ro bị đụng th́
buồn khổ. Hoặc khi có
được th́ lại tham muốn có cái xe khác hay hơn;
cứ vậy mà ch́m đắm măi trong dục vọng.
v Tánh
nóng giận (sân con mắt trợn lên v́ giận):
nóng giận v́ sự việc không xảy ra như mong
đợi, từ đó trí khôn bị mờ đi và lún sâu
vào ngu dốt.
v Tánh
đam mê (si) đam mê một cái ǵ đó nên mù
quáng lao vào, không c̣n biết trúng trật.
v Tánh
không tự kiềm chế (mạn): thả
lỏng cảm hứng, kiêu ngạo, tự cho rằng
"tôi" là hay hơn hết mọi người.
v Tánh
nghi ngờ (nghi) không tin người và việc,
lúc nào cũng nghi ngờ.
v Tánh ích
kỷ (thân kiến): chỉ biết thu vén lợi
lộc riêng cho ḿnh mà không nghĩ đến người
khác. Coi cái "tôi" quá
lớn.
v Tánh
thiên lệch (biên kiến): suy nghĩ nghiêng về
một bên. Trong đạo
Phật chia làm hai loại: thường kiến là tu
cũng vậy mà không tu cũng vậy (thường
kiến ngoại đạo) và đoạn kiến là cho
rằng chết là hết, "tu nhơn tích đức già
đời cũng chết; hung hăng bạo ngược
tắt thở cũng không c̣n" (đoạn kiến
ngoại đạo). Cả
hai loại đều bác bỏ luật nhân quả.
v Tánh
tự ái, không phục thiện (kiến thủ): biết sai nhưng
vẫn khăng khăng căi dể dành phần đúng do hai
lư do: hoặc là không thấy được sai lầm,
hoặc là tự ái ngang như cua.
v Tánh
thích tà giáo (giới cấm thủ): ưa thích và
tuân theo những chuyện quái gở.
v Tánh mê
tín dị đoan (tà kiến).
Dục vọng tham lam (craving or desire) là
nguyên nhân lớn nhất tạo ra đau khổ: tham
muốn vật chất, danh vọng, đời sống
vĩnh viễn; riêng người theo đạo Phật th́
lại tham muốn được chết vĩnh viễn,
không bị tái sinh. Khi thích
một cái ǵ đó th́ con người nổi ḷng mong
muốn và t́m cách để có được cái đó. Có rồi th́ lại lo lắng
giữ ǵn, bị mất đi th́ buồn rầu, đau
khổ; hoặc khi có rồi lại sinh ra nhàm chán mà
muốn có cái khác hay hơn.
Người ta hay ví dục vọng không bao giờ
thỏa măn này giống như người khát nước,
nhưng thay v́ uống nước thông thường th́
lại uống nước muối: càng uống th́ càng khát,
uống hoài cho đến lúc śnh bụng mà chết. Đây là biểu hiện của
hiện tượng non nớt trước bản chất
của vạn vật; nói cách khác đây là hiện
tượng ngu dốt (vô minh).
Sự thật thứ nhất về đau
khổ là cái quả. Sự
thật thứ hai là cái nhân của đau
khổ. Bây giờ hăy xét
đến sự thật thứ ba là sự thật khi
chấm dứt được đau khổ.
Sự
thật thứ ba: chấm dứt được đau
khổ.
Con người phải tự sửa và
tự tập để chấm dứt đau khổ,
diệt những nguyên nhân gây ra đau khổ để
đạt đến niết bàn, kư âm từ chữ
Sanskrit: Nirvana
. "Nir" nghĩa là ra khỏi
và"vana" nghĩa là rừng mê.
Niết bàn là ra khỏi rừng mê. Con người lú lẩn trong
dục vọng nên không nhận thức được
sự vô thường của vạn vật, ngỡ
"cái tôi" là hiện hữu; v́ vậy, bị khổ
hoài, và cứ măi măi luân hồi.
Khi nào chấm dứt hoặc thoát được
đau khổ th́ khi đó đạt được
niết bàn. Nói nôm na là cứ
sống tự nhiên, chấp nhận mọi người
mọi vật chung quanh, không mưu t́m điều ǵ cả
mà cũng không né tránh mọi việc xảy đến cho
ḿnh. Ung dung tự tại.
Niết bàn là sự chấm dứt đau
khổ một cách toàn diện, tuyệt đối và
vĩnh viễn. Đây là
mục tiêu tối hậu của đạo Phật. Đức Phật Thích Ca mô
tả niết bàn là cực lạc (hạnh phúc
tột đỉnh), thanh b́nh và không c̣n sanh tử. Ngài cũng nói không do ai tạo ra niết
bàn, không có h́nh dáng, ở bên trên trái đất, vượt
ra ngoài nước, lửa, không khí, vượt ra khỏi
mặt trời, mặt trăng, không thể hiểu
thấu được và không đo lường
được.
(Nirvana, the total, absolute and permanent cessation of
suffering. This is the ultimate and
final goal of Buddhism. The Buddha
described Nirvana as supreme happiness, as peace, as immortal. Similarly, He has described Nirvana as
uncreated, unformed, as beyond the earth, as beyond water, fire, air, beyond
the sun and moon, unfathomable, unmeasurable.)
Câu hỏi đặt ra là liệu có thoát
được đau khổ không?
Niết bàn có thể có thật không ? Chỉ có một cách duy nhất
để trả lời: tự bản thân mỗi
người chứng nghiệm.
Các nhà truyền giáo đạo Phật hay lấy hai
thí dụ về con cá với con rùa và trái sầu riêng
với trái mít khi biện luận về niết bàn.
Con cá sống suốt đời trong sông,
làm bạn với con rùa.
Một ngày nọ, con rùa bỏ sông mà ḅ lên đất
liền rong chơi. Khi trở
về, con rùa kể lại những điều mắt
thấy, tai nghe trên đất liền cho con cá. Những điều này hoàn toàn vô
lư, viễn vông, không có thật đối với tầm
hiểu biết của con cá: làm sao lại có cái gọi là
"đất" khô ráo, không ẩm ướt, ánh sáng
không chiếu xuyên qua được ? Làm sao loài vật di
chuyển trên đó được, v.v. Ư nói "con cá" không nên bác
bỏ những ǵ đi quá mức hiểu biết thông
thường.
Người ta có thể nói mùi vị trái
sầu riêng thơm ngọt giống như trái mít; nhưng
muốn biết th́ phải thực sự ăn sầu
riêng: không thể mô tả được. Ư nói ai muốn biết niết bàn
th́ phải đích thân thử nghiệm.
Ông Ram Linsen viết về niết bàn trong
quyển "Le destin du 20 siècle" như sau:
"Niết bàn không phải tịch nhiên
bất động, cũng không phải là cái trống không,
cái chết vô tông vô tích.
Niết bàn là sự thực chứng cái bản
thể của vũ trụ.
Không thực chứng được cái bản
thể đó là người c̣n thiếu sót, là sống
một đời sống mất quân b́nh giữa xác
thịt và tâm linh. Niết bàn
không phải là ngoài cái động.
Và chính niết bàn mới là nguồn gốc của
những việc làm chân chính.
Đây là một sự thật."
Ông Phạm Quỳnh viết về niết
bàn trong quyển "Phật giáo lược khảo",
1920, Thượng chi văn tập, quyển IV, nguyên văn
của một đoạn lư luận như sau:
"Đạo Phật rút lại chỉ là
một đạo cứu khổ.
Trong trời đất, trên cơi đời, duy có
sự khổ là hiển nhiên.
Bởi sao mà khổ ?
Bởi cái ḷng tham sống nó thúc giục người
đời cứ quay cuồng xuẩn động hoài để
tự ḿnh làm cực cho ḿnh, không biết rằng hành
động tức là tạo nghiệp, tạo
nghiệp tất có nghiệp
báo, nghiệp báo ắt phải luân hồi, luân hồi là
cứ chết đi sống lại hoài, đời
đời kiếp kiếp phất phơ như cái ma
trơi, phiêu dạt trong khoảng vô tận, khi mờ, khi tỏ,
khi thấp, khi cao, vĩnh kiếp không bao giờ
được nghỉ ngơi, yên ổn, b́nh tĩnh, êm
đềm. Ở đời
đă khổ, làm người đă nhọc như thế,
thời người trí giả chỉ nên hết sức
thoát sự khổ, tránh sự nhọc, mà hy vọng tới
một nơi thập phần tịch mịch. Nơi ấy sách Phật gọi
là Nát bàn (nirvana).
......................................................
"Song người đời vẫn
lấy sự hư vô làm sợ: nếu măn kiếp tu hành,
hết sức học đạo mà cứu cánh chỉ
đến tiêu nhập vào chốn hư vô, thời kinh hăi
biết dường nào!
Phật cũng biết thế, nên Phật đối
với vấn đề cứu cánh cũng giữ một
thái độ như Khổng phu tử đối với
quỉ thần vậy: không hề nói rơ bao giờ, mỗi
khi đề cập đến vấn đề có ư thoái
thác. Khổng tử thời
môn đệ hỏi đến việc quỉ thần, đến
sự chết, trả lời rằng: "Các anh chưa biết việc đời
người ta đă hỏi việc quỉ thần làm ǵ
?" Phật tổ thời
đệ tử hỏi cơi cứu cánh có phải là cơi hư
vô không, và linh hồn đến khi nhập niết bàn c̣n ǵ
nữa không, bèn dùng cách tỉ dụ mà hỏi lại
rằng: "Ta hỏi: nay có
một người bệnh thập tử nhất sinh, có kẻ
đem thuốc lại cứu cho khỏi chết,
người ấy có chịu uống ngay không, hay là c̣n
hỏi thuốc kia ở đâu mà lại, thuốc kia làm
bằng vật ǵ ? Như Lai
thấy chúng sinh trầm luân trong bể khổ, muốn ra
tay tế độ cho siêu thoát, khác nào như kẻ cho
thuốc người bệnh: bệnh nặng, thuốc
sẵn, cứ việc uống, c̣n hỏi ǵ ?"
"Xưa nay những bậc triết nhân
quân tử đă sáng suốt muôn lẽ, đă thấu
hiểu mọi sự, muốn ra tay tế độ cho
quần sinh, thường có nhiều điều tự ḿnh
biết mà không thể truyền bá ra được,
cũng tức như ông thầy thuốc biết rằng
bệnh trạng nguy mà không nói rơ cho bệnh nhân biết
vậy. Phật tổ cũng
vậy: chắc trong ư riêng vẫn biết rằng linh
hồn sau khi tịch diệt rồi là vào cơi tịch
mịch hư vô, chứ chẳng phải nơi thiên
đường cực lạc ǵ; nhưng không hề
thuyết minh cho ai biết bao giờ, là sợ có kẻ
chưa thoát sạch trần tục, nhân thế mà ngă ḷng tu
đạo chăng, v́ những sự biết như
thế là sự biết "chết người"
vậy. Bởi thế nên
dầu các nhà bác học, t́m khắp trong kinh sách, cũng
không thể giải được Nát bàn là thế nào. Ông Oldenberg đă phải chịu
thú thực rằng: "Chúng tôi đă hết sức nghiên
cứu mà kết quả cũng lạ thay: chỉ có hai
thuyết không ra ngoài được, một rằng Nát bàn
là cơi hư vô, hai rằng Nát bàn là nơi cực lạc,
thời rút lại chẳng thuyết nào là đúng
cả".
"Bởi Phật không hề nói quyết
bên nào, nên về sau trong những người tín
ngưỡng đạo Phật chia ra làm hai hạng:
một hạng những người trí tuệ thông minh
thời ức đoán thâm ư Phật mà kết luận
rằng Nát bàn là hư không, đă tịch diệt rồi,
không c̣n ǵ nữa; một hạng những người tŕnh
độ b́nh thường- mà phần đó là phần
nhiều, có thể nói là gần hết các tín đồ
của Phật- thời cứ theo sự hoài vọng
tự nhiên trong ḷng người mà tưởng tượng
cơi Nát bàn là nơi cực lạc, người ta tiêu
diệt rồi thời linh hồn mới tới đó,
được khoái lạc vô cùng.
Rồi về sau có phái nghiễm nhiên quyết đoán
Nát bàn là cực lạc (sukhavâti), và đến khi các phái
Bắc tôn khuynh hướng về Phật Di Đà
(amitâbha), là một vị Phật huyền không có thực,
thời Nát bàn tức là "Tây thiên tĩnh thổ"
vậy."
"Nếu như vậy thời ra tôn
chỉ đạo Phật mập mờ lắm sao ? Cứ lư luận thời tôn
chỉ đạo Phật thật là rơ ràng lắm,
trước sau duy nhất, không ǵ phân minh bằng; nhưng
cứ thực tế thời Phật để cho
người ta tự suy mà kết luận lấy,
người trí tuệ thời không phải kiêng kị ǵ,
suy đến cùng cực là cơi hư vô; người tầm
thường thời tùy ḷng hi vọng muốn tưởng
tượng ra một cơi đời tốt đẹp
hơn đời nay, hết cuộc luân hồi, làm nơi
thường trụ, cũng mặc dầu. Song cứ bản ư Phật
thời có lẽ cho những vấn đề ấy không
quan trọng ǵ. Nát bàn là hư
vô hay là cực lạc, biết hay không cũng chẳng
hề ǵ"
"Những kẻ trí giả nhân tu
niệm đă thành công, trong ḷng được b́nh tĩnh,
thời dầu đương sống trong trần tục
mà cũng đă được nếm mùi Nát bàn rồi. Như vậy thời đạo
Phật là trọng nhất sự tu hành, mà tu hành chẳng
qua là gồm trong bốn chữ chính tâm diệt dục mà
thôi, chính tâm mới hiểu được lẽ
đạo, diệt dục mới hết được
khổ năo; đó mới là phần cốt yếu, c̣n
những sự nghị luận viễn vông thời là
phần phụ thuộc vậy."
Khi chấm dứt đau khổ, con
người sẽ tới được niết bàn
như dă tŕnh bày ở trên. Câu
hỏi là làm sao để chấm dứt đau khổ ?
Sự
thật thứ tư: cách chấm dứt đau khổ.
Sự thật thứ tư nhằm tŕnh bày
nhiều cách thức để chấm dứt đau
khổ mà kinh điển liệt kê vài cách chính yếu
như dưới đây:
a)Bốn điều luôn luôn tưởng
nhớ đến (tứ niêm xứ)
b)Bốn phép phải siêng năng làm (tứ
chánh cần)
c)Bốn phép thiền định (tứ
như ư túc)
d)Con đường có tám nhánh (the noble
eightfold path, bát chánh đạo
) Con đường có tám nhánh là
cách thông dụng đến nỗi khi nói về sự
thật thứ tư, nhiều người tưởng
lầm rằng sự thật thứ tư chỉ là con
đường có tám nhánh. Tám
nhánh đó là:
Cước
chú:
(1) và
(2): hai fonts chữ Hán khác nhau v́ tôi thích font
FZZhanBiHei M225; nhưng vài chữ không "chịu" font
này. Chữ "đế"
không trích được từ NJStar nên tôi phải ghép thành
hai chữ "ngôn" (lời nói, chỉ nghĩa) và
"đế" (vua, chỉ âm) cho thành chữ
"đế".
Tôi chỉ t́m hiểu đạo Phật qua
các sách viết bằng chữ Hán, Anh và Việt Nam. Các kinh sách viết bằng
tiếng Anh bộc lộ rơ ràng ư nghĩa, dịch thẳng
từ chữ Sanskrit trong tinh thần khảo cứu khoa
học của phương Tây nên rất dễ hiểu ,
đặc biệt là ít có suy diễn hoặc gán ghép. C̣n kinh sách Việt Nam dịch
từ sách Trung quốc, c̣n đậm nét Á đông và dùng quá
nhiều từ ngữ Hán Việt.
Tôi không có cách nào khác hơn là phải căn cứ trên
từ ngữ Trung quốc mà bàn luận. Nói vậy có nghĩa là việc
"tam sao, thất bản" sẽ xảy ra, nhưng có
c̣n hơn không; cũng như sẽ phải sử dụng
những từ ngữ Hán Việt rất "khó hiểu,
tối nghĩa" đối với người không
học qua chữ Hán. Khác
với tiếng Anh là loại tiếng đa âm (tiếng Anh
đồng âm rất hiếm hoi), tiếng Hán là loại
tiếng độc âm cho nên hiện tượng
đồng âm nhưng dị nghĩa nhiều khủng
khiếp: một âm dùng cho nhiều nghĩa chữ khác nhau,
nhưng may mắn là kiểu chữ được
viết hoàn toàn khác nhau nên c̣n cách để phân biệt. Tiếng Việt Nam cũng là
loại tiếng độc âm, nhưng khổ hơn
tiếng Hán một bậc là v́ viết theo kiểu mẫu
tự a b c nên không sao phân biệt được nghĩa
nếu gặp chữ đồng âm. Thí dụ : chữ "minh" ,
trong chữ Hán, được viết nhiều kiểu
chữ khác nhau cho nhiều nghĩa khác nhau, nhưng với
chữ Việt Nam viết theo mẫu tự a b c th́ chỉ
có duy nhất một kiểu viết: minh. Do đó, việc hiểu đúng
nghĩa tiếng Việt Nam có phần khó khăn. Một nỗi khổ thứ hai
là người Việt Nam lại mượn tiếng Hán
để đọc trại thành tiếng Hán Việt, có
chữ phổ thông thành tiếng Việt Nam luôn nhưng c̣n
nhiều chữ hăy c̣n rất xa lạ với đại
chúng. Trường hợp này
th́ bắt buộc phải quay về gốc chữ Hán. Lúc đó chắc chắn sẽ
bị vấn nạn đồng âm của chữ Hán:
cần phải xác định cho đúng mặt chữ Hán
của chữ muốn t́m nghĩa, thuộc bộ chữ
nào để khỏi lầm lẫn nghĩa chữ cũng
như để dễ tra cứu.
Dưới đây là các từ ngữ Hán Việt trong
vấn đề được tŕnh bày.
Tứ
Diệu Đế: gồm có khổ đế, tập
đế, diệt đế và đạo đế.
Đế:
không có nghĩa là hắt hơi, vua, núm quả,
cội nguồn, cầu vồng, đế giày, đối
đế mà ở đây có nghĩa là xem xét kỹ
lưỡng. Theo nghĩa nhà
Phật, chữ "đế" nghĩa là chân ngôn:
sự thật chắc chắn nhất, cao nhất, bao trùm
mọi sự thật khác, và luôn luôn đúng trong mọi
không gian và thời gian.
Khổ: nguyên nghĩa là đắng. Theo nghĩa nhà Phật, chữ
"khổ" nghĩa là khó
chịu đựng được, đau đớn. Khổ đế nghĩa là
sự thật về cái đau khổ ở đời,
Trung quốc dịch từ chữ Sanskrit: Dukkha
Tập: gom góp nhiều vụn vặt lại
mà thành một cái ǵ. Theo
nghĩa nhà Phật, do kiếp trước gây ra nhiều
điều xấu như tàn ác, sát sinh, dâm dục, tham lam,
v.v., tất cả gom góp lại thành cái "nhân" nên
phải tái sinh, v́ thế gọi là tập đế. Trung quốc dịch từ
chữ Sanskrit: Sameda Dukkha.
Diệt: biến mất, hết, tiêu
hủy. Theo nghĩa nhà
Phật, chữ "diệt đế" muốn nói
đến đời là bể khổ nên phải tiêu
hủy khổ để đạt đến cơi niết
bàn. Trung quốc dịch
từ chữ Sanskrit: Nirodha Dukkha.
Đạo: con đường. Theo nghĩa nhà Phật, chữ
"đạo đế" muốn nói đến con
đường hoặc cách thức để diệt
khổ: bát chánh đạo.
Trung quốc dịch từ chữ Sanskrit: Nirodha
Gamadukkha.
Ngũ
Ấm: gồm có sắc ấm, thụ ấm,
tưởng ấm, hành ấm, thức ấm.
Ấm: che ngăn. Trung quốc dịch
từ chữ Sanskrit: Skandhas.
Sắc: hiện tượng màu do ánh sáng
chiếu vào, h́nh tướng. Theo nghĩa nhà Phật th́
tất cả cái ǵ có h́nh, có tướng đều gọi
là sắc. Sắc ấm là do
nhiều h́nh tướng che lấp chân tính. Thí dụ: tai nghe âm thanh, mắt
nh́n sự vật, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm
vị, da đụng chạm với sự vật, tất
cả năm giác quan này tạo ra một h́nh dạng
vật chất nào đó. Trung
quốc dịch từ chữ Sanskrit: Rupa.
Thụ:nhận lấy, thuộc bộ
"Hựu". Thụ
ấm nghĩa là h́nh dạng vật chất nào đó
khiến cho con người nhận lấy và phản
ứng lại bằng cảm giác khổ, vui, hoặc không
khổ, không vui. Trung quốc
dịch từ chữ Sanskrit: Venada.
Tưởng: sự việc chưa
xảy ra nhưng đă nghĩ tới. Tưởng ấm nghĩa là
căn cứ vào các cảm giác về các h́nh ảnh, âm thanh
hoặc những ǵ có thể h́nh dung được mà con
người phát sinh nhận định để nhận
diện, sắp loại các cảm giác đó. Trung quốc dịch từ chữ
Sanskrit: Samjna.
Hành: bước chân đi. Theo nghĩa nhà Phật th́ hành
ấm có nghĩa: việc nhận diện, sắp loại
cảm giác tạo điều kiện phát sinh quan điểm
biến đổi không ngừng. Trung quốc dịch
từ chữ Sanskrit: Samskara.
Thức: hiểu biết. Thức ấm: từ bốn
diễn tŕnh trên, ư thức thành h́nh và biến đổi
không ngừng; điều khiển và chi phối hành động
của con người. Trung
quốc dịch từ chữ Sanskrit: Vijnana.